CÔNG TY TNHH KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TƯ VẤN VIỆT NAM

    VĂN PHÒNG - HÀ NỘI

    Mr.Hà Quốc Khánh - Tổng Giám Đốc

    Mobile: 0965 31 11 11

    Ms.Nguyễn Thị Tuyết - Phó Trưởng Phòng

    Mobile:01689 035 742

    VĂN PHÒNG - HỒ CHÍ MINH

    Ms.Nguyễn Hoàng Trang-Phó Tổng Giám Đốc

    Mobile: 0908 485 286

    Mr.Đoàn Đức Cảnh - Giám Đốc Kiểm Toán

    Mobile: 0909 528 307

    Địa chỉ : Số 10, ngõ 121, phố Chùa Láng, phường Láng Thượng, Quận Đống đa, Tp.Hà Nội

    Tel: (84-24) 3775.5406 / Fax: (84-24) 3775.5405


    Địa chỉ : 1A5 Đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường Đa Kao, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh

    Tel: (84-28) 3910.2964 / Fax: (84-28) 3910.2965

    GIỚI THIỆU VỀ AACC


    Công ty TNHH Kế Toán Kiểm Toán Tư Vấn Việt Nam (gọi tắt là “AACC”) là một trong những công ty hàng đầu và năng động nhất đang hoạt động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và tư vấn của Việt Nam.

    Với hai văn phòng tại Tp. Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, AACC có khả năng cung cấp những dịch vụ chất lượng tốt nhất cho các khách hàng của mình trên khắp đất nước. Gần 15 năm hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và tư vấn thuế, đến nay, AACC đã phát triển được hệ thống các khách hàng một cách rộng lớn và ổn định bao gồm các công ty đa quốc gia, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế cũng như các dự án quốc tế tại Việt Nam.

    Với đội ngũ nhân viên năng động và chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ ổn định, chúng tôi chắc chắn sẽ cung ứng cho khách hàng các dịch vụ kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ, kế toán, tư vấn thuế, tư vấn kế toán, tư vấn đầu tư… một cách tốt nhất.

    BANH LÃNH ĐẠO AACC


    Anh Hà Quốc Khánh - Sáng lập viên kiêm Tổng Giám đốc công ty. - Với hơn 22 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán – tư vấn và là chuyên gia giải quyết các tình huống thuế phức tạp nhất, anh Khánh là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực kiểm toán – tư vấn tại Việt Nam. Anh Khánh hiện là Thành viên Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam và Hiệp hội các nhà tư vấn thuế Việt Nam.

    Chị Nguyễn Thị Tuyết - Phó Trưởng Phòng Kiểm Toán. Với hơn 6 năm kinh nghiệm chuyên kiểm toán cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn... Chị Tuyết dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán cũng như kiểm soát nội bộ. Chị Tuyết hiện là Thành viên của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam và Tư vấn Thuế Việt Nam.

    Chị Nguyễn Hoàng Trang - Phó Tổng Giám đốc kiểm toán. Với hơn 15 năm kinh nghiệm chuyên kiểm toán, tư vấn cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ, đặc biệt là các trường hợp rủi ro và tiềm năng thuế. Chị Trang đã trở thành chuyên gia kiểm toán/ kế toán/ soát xét/ tư vấn cho mọi loại hình doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam. Hiện tại Chị Trang là Thành viên Hiệp Hội Kiểm toán viên Hành Nghề Việt Nam và Hiệp hội Tư vấn Thuế Việt Nam.

    Anh Đoàn Đức Cảnh - Giám đốc kiểm toán của Công ty. Với hơn 6 năm kinh nghiệm chuyên kiểm toán cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn… Anh Cảnh dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán cũng như kiểm soát nội bộ. Anh Cảnh hiện là Thành viên của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam và Tư vấn Thuế Việt Nam.

    DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ
    Vớí kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc về hệ thống thuế trong nước, chúng tôi sẽ hỗ trợ khách hàng trong việc phân tích những vấn đề thuế phức tạp nhất để đạt được một giải pháp tốt nhất cũng như giảm thiểu gánh nặng về thuế ở mức thấp nhất. Chúng tôi tự hào về việc tiết kiệm từng đô la cho khách hàng. Những năm qua, việc tư vấn thuế của chúng tôi đã đạt được danh tiếng trong lĩnh vực kinh doanh này với hai loại dịch vụ chính, bao gồm:

    1. Đăng ký, kê khai và quyết toán thuế
    Việc đăng ký, kê khai và quyết toán các loại thuế chính xác sẽ giúp khách hàng tránh các khoản phạt thuế không đáng có và trong một số trường hợp số tiền này lớn đến mức có thể gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Tại AACC, chúng tôi luôn hiểu sự khó khăn của khách hàng khi phải tuân thủ chặt chẽ những quy định liên quan. Do đó, chúng tôi đã không ngừng mở rộng và phát triển dịch vụ này để trợ giúp các khách hàng giảm thiểu gánh nặng về thủ tục hành chính không cần thiết. Tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng, chúng tôi sẽ thay mặt khách hàng thực hiện công việc này hoặc sẽ cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết đảm bảo họ thực hiện chúng theo cách hiệu quả nhất.

    2. Lập kế hoạch, soát xét và tư vấn thuế
    Những dịch vụ này đòi hỏi những chuyên gia có kiến thức sâu rộng về hệ thống thuế ở Việt Nam. Với đội ngũ chuyên gia về thuế trong nhiều lĩnh vực, chúng tôi có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn thuế sau đây:
      • Lập kế hoạch thuế thu nhập cá nhân bao gồm việc cấu trúc lại các khoản thu nhập;
      • Lập kế hoạch thuế thu nhập doanh nghiệp để đạt được các lợi ích và ưu đãi về thuế tốt nhất;
      • Lập kế hoạch thuế giá trị gia tăng;
      • Soát xét thuế định kỳ để phát hiện các vấn đề thuế đang phát sinh cần xử lý ngay;
      • Kiểm tra và báo cáo định mức tiêu hao nguyên liệu - là cơ sở xác định nghĩa vụ thuế xuất nhập khẩu của khách hàng;
      • Dịch vụ soát xét và tư vấn thuế cho từng trường hợp cụ thể, đặc biệt là xử lý các trường hợp khách hàng không đồng ý với kết quả của Cơ quan thuế từ Biên bản kiểm tra quyết toán thuế.

    Đối với từng trường hợp, chúng tôi sẽ ứng dụng các Mô hình Thuế đã được xây dựng từ nhiều năm kinh nghiệm để phát triển hàng loạt giải pháp thay thế, từ đó phối hợp chặt chẽ với khách hàng để chọn ra giải pháp tốt nhất.
    DỊCH VỤ KIỂM TOÁN, BÁO CÁO TÀI CHÍNH
    Tại AACC, chúng tôi cung cấp ở phạm vi rộng khắp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ đảm bảo bao gồm kiểm toán theo luật định, kiểm toán nội bộ và xác định giá trị doanh nghiệp cũng như các dịch vụ soát xét báo cáo tài chính theo yêu cầu và tư vấn tài chính.

    1. Kiểm toán báo cáo tài chính
    Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được yêu cầu kiểm toán theo luật định bởi một công ty kiểm toán độc lập. Tuy nhiên, đối với các tập đoàn đa quốc gia, việc kiểm toán một công ty con của tập đoàn đó ở Việt Nam cũng giúp tạo điều kiện cho quá trình kiểm toán hợp nhất của công ty mẹ. Do vậy, việc kiểm toán công ty con được thực hiện chính xác và tuân thủ chuẩn mực sẽ giúp tối thiểu hóa chi phí và thời gian yêu cầu phát hành báo cáo tài chính hợp nhất.

    Tại AACC, chúng tôi áp dụng phương pháp kiểm toán dựa trên xác định rủi ro, là sự kết hợp giữa mô hình kiểm toán rủi ro truyền thống và phương pháp tiếp cận hiện đại hơn để xác định rủi ro kinh doanh. Phương pháp này làm tăng tính hiệu quả các dịch vụ của chúng tôi đưa ra. Hơn thế nữa, một phần không thể thiếu của phương pháp này, chúng tôi làm gia tăng giá trị cho khách hàng thông qua việc đưa ra các gợi ý để giúp khách hàng giảm thiểu các rủi ro và tăng hiệu quả quản lý nội bộ.

    Phương pháp kiểm toán trên sẽ không thực hiện được một cách hiệu quả nếu thiếu các trưởng phòng kiểm toán có năng lực, những người được trao quyền không những để hoàn thành nghĩa vụ pháp lý báo cáo mà còn làm việc với tư cách là một cố vấn kinh doanh.

    2. Kiểm toán nội bộ
    Ngày nay, vai trò quan trọng của kiểm toán nội bộ được công nhận một cách rộng rãi, đặc biệt đối với các tập đoàn đa quốc gia. Kiểm toán nội bộ giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn các nguồn lực và làm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, chi phí để duy trì bộ phận kiểm toán nội bộ trong công ty khá tốn kém. Đến với AACC, chúng tôi đã có giải pháp cho vấn đề đó – cung cấp bộ phận kiểm toán nội bộ cho khách hàng với chi phí cạnh tranh nhất.

    Khi thực hiện kiểm toán nội bộ, chúng tôi không những lập báo cáo về những vấn đề được tìm thấy, mà quan trọng hơn, chúng tôi phân tích, thảo luận các vấn đề đó một cách cẩn thận với khách hàng để cung cấp cho khách hàng những gợi ý có giá trị và có thể thực hiện được.
    DỊCH VỤ KẾ TOÁN, KẾ TOÁN TRƯỞNG, BÁO CÁO TÀI CHÍNH...
    Qua nhiều năm, vai trò của kế toán đã dần dần có giá trị trong doanh nghiệp không chỉ đơn thuần cách nhìn truyền thống chỉ là lưu giữ sổ sách và tuân thủ luật định. Hệ thống kế toán được phát triển tốt sẽ cung cấp nhiều thông tin cập nhật và có giá trị trong lĩnh vực tài chính và hoạt động điều hành của công ty, vì vậy tăng cường khả năng để tạo nên những quyết định kinh doanh tốt. Phạm vi của dịch vụ kế toán của chúng tôi phản ánh cái nhìn của chúng ta về vai trò của kế toán phát triển. Phạm vi bao gồm:

    1. Thiết lập hệ thống kế toán
      • Tư vấn cho khách hàng lựa chọn hệ thống kế toán phù hợp tình hình kinh doanh và đặc điểm hoạt động của khách hàng tuân thủ Hệ thống kế toán Việt Nam hoặc Chuẩn     mực kế toán quốc tế, hoặc những quy định khác;
      • Dịch vụ đăng ký hệ thống kế toán;
      • Dịch vụ tư vấn về việc chọn lựa và thực hiện phần mềm kế toán;
      • Dịch vụ tư vấn thiết lập hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với yêu cầu báo cáo và hoạt động của khách hàng;
      • Dịch vụ tư vấn trong việc thiết lập hoặc cải thiện hệ thống chi phí.

    2. Dịch vụ kế toán quản trị
    Việc thực hành kế toán quản trị đang phát triển của chúng tôi được biết vì khả năng mang lại hoạt động tăng thêm giá trị cho bộ phận kế toán và làm tăng quyết định tạo nên vai trò của kế toán trưởng. Phạm vi dịch vụ của chúng tôi gồm nhiều loại, từ phức tạp như là xây dựng từ đầu hệ thống quản lý kế toán hiệu quả để thực hiện chức năng kế toán quản lý phổ biến hơn như là chuẩn bị ngân sách, dự đoán, quản lý chi phí, quản lý chi phí chiến lược, phân tích kinh doanh và những cái khác.

    3. Lưu giữ sổ sách và những dịch vụ kế toán khác
    Đối với một số doanh nghiệp, việc thuê kế toán ngoài thì thường kinh tế và hiệu quả hơn. Bằng việc giao phó công việc kế toán cho AACC, quý khách hàng có thể giải phóng nguồn nhân lực để tập trung vào lĩnh vực chuyên biệt của mình, và phần còn lại chắc chắn sẽ được đảm nhiệm bởi một đội ngũ chuyên nghiệp ở một mức giá rất cạnh tranh.

    Nếu công việc kế toán đã được thực hiện tại công ty và khách hàng vẫn cần sự đảm bảo về chất lượng của hạch toán kế toán thì với AACC, chúng tôi cũng có thể xem trước việc hạch toán của khách hàng và giúp khách hàng chuẩn bị Báo cáo tài chính phù hợp với Luật định và yêu cầu quản lý.
    TƯ VẤN ĐẦU TƯ
    Phát triển chính là đồng nghĩa với việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn. Tuy nhiên, trong một thế giới kinh doanh biến đổi liên tục không ngừng, thì điều này quả là không đơn giản như người ta nghĩ. Tại AACC, chúng tôi có thể trợ giúp khách hàng đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn bằng phương pháp tiếp cận có hệ thống của chúng tôi để thẩm định đầu tư. Cách tiếp cận chi tiết từng bước một sẽ giúp khách hàng tiên đoán được lợi ích cũng như những rủi ro mà dự án có thể đối mặt. Dịch vụ tư vấn thẩm định đầu tư trọn gói bao gồm, nhưng không giới hạn ở những điểm sau:

    1. Đánh giá dự án
     • Nghiên cứu thị trường;
     • Nghiên cứu tính khả thi;
     • Phân tích viễn cảnh kinh doanh;
     • Dự đoán tình hình tài chính;  • Đánh giá đầu tư sử dụng kỹ thuật đánh giá mới nhất.

    2. Tiến hành dự án
     • Chuẩn bị tất cả các tài liệu được yêu cầu;
     • Liên hệ với các cơ quan chức năng liên quan;
     • Đưa ra ý kiến chuyên nghiệp liên quan đến lĩnh vực hoạt động và pháp luật.

    3. Đánh giá dự án
     • Đánh giá thành công của dự án bằng việc so sánh giữa việc thực hiện thực tế so với đề án đưa ra;
     • Phát hiện ra những cơ hội mới để làm tăng giá trị đầu tư.
    DỊCH VỤ SOÁT XÉT SỔ SÁCH KẾ TOÁN CHO MỤC ĐÍCH THUẾ, QUẢN TRỊ NỘI BỘ
    EMAIL



    Văn Phòng

    TP.HỒ CHÍ MINH

    1A5 Đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường Đa Kao, Quận 1, Tp.HCM, Việt Nam

    Điện thoại: (84-28) 3910.2964

    Fax: (84-28) 3910.5293

    Email: auditing@aacc.com.vn

    TP. HÀ NỘI

    Số 10, ngõ 121, Phố Chùa Láng, Quận Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam

    Điện thoại: (84-24) 3775.5406

    Fax: (84-24) 3775.5405

    Email: auditing@aacc.com.vn


    Trực tuyến

    TP.HỒ CHÍ MINH

    Ms.Thúy / Phone: (08) 3910.2964

    Ms.Ánh / Phone: (08) 3910.2964

    TP. HÀ NỘI

    Ms.Trang / Phone: (04) 3775.5406

    Ms.Hà / Phone: (04) 3775.5406

    Từ 1/1/2015, cách tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) mới được áp dụng. Nhiều chuyên gia cho rằng, kỳ vọng đảm bảo hài hòa quyền lợi, nghĩa vụ thuế cho người dân có thể không đạt được mục tiêu vì thiếu thực tế, dễ nảy sinh tiêu cực, xin cho.

    3 triệu hộ bị ảnh hưởng

    Theo cách tính mới, các hộ kinh doanh có thu nhập từ 100 triệu đồng/năm trở lên sẽ phải đóng thuế TNCN theo hình thức khoán 2% trên tổng doanh thu. Theo lý thuyết, sẽ có khoảng 3 triệu hộ kinh doanh cá thể nằm trong diện nộp thuế.

    Tính thuế thu nhập cá nhân mới: Thiếu công bằng, dễ tiêu cực?, thue thu nhap ca nhan, tinh thue thu nhap ca nhan oi, nghia vu thue, dong thue, ho kinh doanh, Tong cuc Thue

    Tiệm bún nhỏ tại vỉa hè có doanh thu 100 triệu đồng/năm có nguy cơ đóng cửa nếu phải chịu thuế thu nhập cá nhân

    Chị Bích Nga, chủ quán bún riêu cua trên đường Quang Trung (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) cho biết, trung bình mỗi tháng quán lãi 8,4 triệu đồng mới đạt lợi nhuận 100 triệu đồng/năm. Như vậy, mỗi ngày, sẽ lãi gần 300.000 đồng. Theo chị Nga, nếu cách tính thuế này áp dụng, nguy cơ tiệm bún nhỏ vỉa hè này sẽ phải đóng cửa. “Cả một cửa tiệm có đến 5 nhân viên, lãi 300.000 đồng/ngày đâu phải là nhiều. Trong khi đó, con trai tôi đi làm nhân viên nhà nước với mức lương khởi điểm 9 triệu đồng/tháng mới phải chịu thuế (chưa tính giảm trừ gia cảnh).

    “Người cho thuê nhà ở cũng như người cho thuê văn phòng, chung cư cao cấp. Đánh đồng tất cả mọi đối tượng như vậy là không có sự bình đẳng”.

    Bà Đỗ Thị Thìn

    Không hiểu cơ quan thuế khi xem xét đánh thuế các hộ kinh doanh nhỏ lẻ có nghĩ đến khoản này không. Sao lại có sự phân biệt giữa người đi làm và người kinh doanh nhỏ lẻ như vậy”, chị nói. Anh Đức Long, chủ tiệm nhà hàng BBQ tại Hà Nội cho biết, nhà hàng đã thành lập doanh nghiệp, mỗi ngày thu hàng chục triệu đồng tiền hàng, nhưng tiền thuế đóng hằng tháng ít. Bởi lẽ, nhà hàng phải trừ các khoản chi phí từ nhân viên, thuê cửa hàng, nhiên liệu, điện, nước... “Có tiếng là kinh doanh nhà hàng nhưng lợi nhuận không cao nên tiền thuế hằng tháng phải nộp ít. Tuy nhiên, điều quan trọng là nhà hàng chúng tôi tạo được công ăn việc làm cho nhiều nhân viên”, anh Long nói.

    Dễ tiêu cực

    Bà Đỗ Thị Thìn, nguyên Trưởng phòng Thuế TNCN (Tổng cục Thuế) cho biết, trước đây thu theo dạng thuế lũy tiến, hộ kinh doanh có 2 dạng nộp thuế: kê khai và khoán. Đối tượng nộp theo dạng kê khai thì theo hình thức bình thường; còn nộp theo dạng khoán không phải thu theo tỷ lệ. Chính sách cần phải có sự phân biệt đối xử giữa những người nộp thuế. Tuy nhiên, chính sách mới đã thay đổi toàn bộ. Chính sách mới đổ tất cả vào một rọ, nên rất khó cho các bên (người nộp thuế và người thu thuế) thực hiện đúng.

    Loại thuế toàn phần này có nhược điểm đánh thuế cao với người thu nhập thấp, đánh thuế thấp với người thu nhập cao. Chính sách mới đánh đồng tất cả thì làm sao gọi là chính sách xây dựng bình đẳng. Trước đây, dùng thuế lũy tiến là có sự bình đẳng về thuế.

    Chính sách mới ban hành đi ngược lại điều đó. Khi không có sự phân biệt các hộ kinh doanh, sẽ đi ngược với sự đảm bảo công bằng về thuế. Ngay như cơ quan thuế cũng sẽ gặp khó khăn khi thực hiện chính sách này. Giải bài toán xác định doanh thu của đối tượng nộp thuế không dễ.

    Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết, người phải nộp chưa thấy rõ xác định thu nhập thế nào, người thu thuế cũng không có căn cứ chuẩn xác định doanh thu để thu, đặc biệt các hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ. Khi không có căn cứ đúng, người bị thu sẽ phản ứng. Cần xem xét lại tính khả thi của quy định. “Điều quan trọng nhất là các chứng từ xác định doanh thu. Với điều kiện kinh doanh nước ta, các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ không có chứng từ thu được bao nhiêu. Khi không có cơ sở xác minh doanh thu trên hay dưới 100 triệu đồng, có nguy cơ cò cưa giữa người nộp thuế và người thu thuế. Dẫn đến, ngân sách nhà nước sẽ bị thất thu”, ông Long nói.

    Bà Tạ Thị Phương Lan, Phó Vụ trưởng Quản lý thuế TNCN (Tổng cục Thuế) cho biết, đặc điểm các hộ kinh doanh ở Việt Nam là tính quy mô và tuân thủ pháp luật còn thấp. Với cách tính thuế trước đây, đặc biệt là hai hộ kinh doanh cạnh nhau có cùng quy mô nhưng chưa chắc số thuế bằng nhau. Và cá nhân họ cũng không biết tại sao. Liệu có sự không minh bạch, thông đồng với cán bộ thuế trong việc tính thuế hay không? Chính vì vậy, gây nhiều khó khăn cho cá nhân kinh doanh. Do đó, cách tính thuế mới sẽ giải quyết vấn đề này. Tính thuế suất toàn phần trên doanh thu, cá nhân có thể dễ dàng tự tính số thuế mình phải nộp cũng như hộ bên cạnh. Qua đó, có thể giám sát việc thu thuế của cán bộ thuế. Khi xây dựng, chúng tôi cũng tính đến mức giảm trừ gia cảnh cố định.

    “Nếu áp dụng cách tính thuế này thì người giàu cũng như người nghèo. Nhóm hộ kinh doanh thu nhập cao không nhiều. Trong năm 2015, chúng tôi tính toán đưa hộ kinh doanh này chuyển lên doanh nghiệp. Đối với hộ thấp sẽ không bị ảnh hưởng bởi rất công bằng. Mục tiêu của cách tính thuế mới nhằm rút gọn thủ tục hành chính trong cách tính thuế thay vì nhằm tăng nguồn thu từ thuế”, bà Lan nói.

    Theo Tuấn Đức- Ngọc Mai (Báo Tiền Phong)

    Kính gửi: Quý Hội viên

    TỔNG HỢP VĂN BẢN MỚI VỀ THUẾ

    Số 02 tháng 01 năm 2015

     

    TT

    Ngày ban hành

    Số văn bản

    Trích yếu

    I

    QUYẾT ĐỊNH

    1

    23/12/2014

    3302/QĐ-BTC

    Về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài chính

    II

    CÔNG VĂN

    1

    29/12/2014

    19058/BTC-TCT

    Về việc Thuế TNCN đối với thu nhập từ quà tặng

    2

    30/12/2014

    5891/TCT-CS

    Về việc chính sách thuế

    3

    30/12/2014

    5892/TCT-CS

    Về việc hóa đơn và thuế GTGT

    4

    30/12/2014

    5893/TCT-DNL

    Về việc đồng tiền ghi tại hóa đơn điện tử

    5

    30/12/2014

    5913/TCT-TNCN

    Về việc Thuế TNCN đối với thu nhập từ trúng thưởng casino

    6

    30/12/2014

    5922/TCT-TNCN

    Về việc hướng dẫn thuế TNCN

    7

    30/12/2014

    5923/TCT-KK

    Về việc chính sách thuế

    8

    31/12/2014

    5929/TCT-CS

    Về việc chính sách thuế GTGT.

    9

    31/12/2014

    5954/TCT-TNCN

    Về việc Thủ tục hoàn thuế thu nhập cá nhân nhận lương Net

    10

    05/01/2015

    19/TCT-CS

    Về việc thuế GTGT

    11

    05/01/2015

    45/BTC-TCT

    Về việc hóa đơn bán ra không có tiêu thức địa chỉ người bán

     

    Để kiểm soát doanh thu, những cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, dịch vụ giải trí... đủ điều kiện về công nghệ thông tin sẽ phải nối mạng với cơ quan thuế.

    Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật và Nghị Định về thuế, Bộ Tài chính đã đề xuất một số quy định về thuế thu nhập cá nhân.

    Theo đó, thuế đối với cá nhân kinh doanh, tại khoản 1 và khoản 4 Điều 2 Luật số 71/2014/QH13 quy định cá nhân có doanh thu từ 100 triệu đồng một năm trở xuống không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; đồng thời quy định cụ thể việc thu thuế đối với cá nhân kinh doanh theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh. Trong đó, phương pháp tính thế đối với cá nhân kinh doanh dự trên doanh thu sẽ thay đổi.

    Căn cứ luật, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định về việc xác định doanh thu tính thuế, đồng thời cũng bổ sung nguyên tắc quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh sử dụng thường xuyên 10 lao động trở lên phải thành lập doanh nghiệp và phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ để nộp thuế kê khai theo quy định về quản lý thuế. Đối với cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, dịch vụ giải trí... đủ điều kiện về công nghệ thông tin phải nối mạng với cơ quan thuế để cơ quan thuế kiểm soát doanh thu.

    Cụ thể, theo dự thảo, cá nhân kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh. Trường hợp cá nhân có thu nhập từ kinh doanh trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề thì nộp thuế theo tỷ lệ áp dụng đối với lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh chính do cá nhân kinh doanh tự khai và xác định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Theo đề xuất của Bộ Tài chính, thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh như sau: Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2% (Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp: 5%)...

    Ngoài các quy định trên, để phù hợp với quy định của Luật số 71/2014/QH13, tại dự thảo Nghị định, Bộ Tài chính đã đề xuất bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế và thu nhập của các cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ.

    Riêng đối thuế thu nhập cá nhân với các khoản đóng góp bảo hiểm nhân thọ, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại Nghị định 65/2013/NĐ-CP thì thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của cá nhân bao gồm cả các khoản lợi ích nhận được từ người sử dụng lao động dưới mọi hình thức, trong đó bao gồm khoản tiền phí tích lũy mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền tích lũy đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện, do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động.

    Cá nhân chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân khi doanh nghiệp đóng góp tiền phí bảo hiểm mà khi cá nhân nhận quyền lợi bảo hiểm (tiền bảo hiểm, tiền lương hưu) thì doanh nghiệp bảo hiểm, công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện có trách nhiệm khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% đối với khoản tiền phí tích lũy, tiền tích lũy đóng góp quỹ tương ứng với phần người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động.

    Đối với khoản cá nhân tự đóng góp vào Quỹ hưu trí tự nguyện thì cá nhân được trừ không tính vào thu nhập chịu thuế tối đa 1 triệu đồng một tháng.

    Tại dự thảo, Bộ Tài chính đã đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định về thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp được tính vào chi phí hợp lý khoản trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động không vượt mức 3 triệu đồng một tháng.

    Do vậy, Bộ Tài chính cũng đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân như sau: Khoản tiền đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động vượt trên 3 triệu đồng tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân; trường hợp người lao động tự đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện thì mức tối đa được trừ ra khỏi thu nhập tính thuế tối đa cũng không quá 3 triệu đồng một tháng (tính cả phần do người sử dụng lao động mua, đóng góp cho người lao động).

    Khoản tiền mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác mà có tích lũy phí do người sử dụng lao động mua cho người lao động thì cá nhân chưa phải nộp khi mua mà nộp khấu trừ tại nguồn khi nhận quyền lợi bảo hiểm tại thời điểm đáo hạn hợp đồng do doanh nghiệp bảo hiểm khấu trừ (trừ trường hợp mua của doanh nghiệp thành lập và pháp luật nước ngoài nhưng được phép bán bảo hiểm vào Việt Nam thì khoản tiền phí bảo hiểm do chủ sử dụng lao động mua là thu nhập chịu thuế của cá nhân tại thời điểm mua bảo hiểm).

    Thực hiện Kế hoạch kiểm tra 6 tháng cuối năm 2014, sáng 27, 28/11/2014 và sáng 4/12/2014, Trung ương Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) đã làm việc với Lãnh đạo Hội Kế toán Địa chất Việt Nam, Hội Kế toán TP. Hà Nội, Hội Kế toán Kho bạc Nhà nước nhằm nắm bắt tình hình hoạt động của các Hội thành viên.

    Tham gia đoàn làm việc tại các Hội về phía VAA có Ông Phạm Công Tham, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VAA, ông Vũ Hữu Nam, Phó Chủ tịch VAA, ông Trịnh Công Loan, UV thường vụ BCH VAA, trưởng ban Kiểm tra, bà Đàm Thị Lệ Dung, UVBCH VAA, uỷ viên Ban Kiểm tra. Về phía các hội thành viên có lãnh đạo là Chủ tịch, phó Chủ tịch, Chánh Văn phòng các Hội.

    Hội Kế toán địa chất Việt Nam (HĐC): Xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội , Hội đẩy mạnh các mặt hoạt động như: Tuyên truyền, giới thiệu về Hội; thu hút hội viên; tăng cường đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công tác chuyên môn; thăm hỏi, chia sẻ, động viên khi hội viên hoặc người thân ốm đau; nâng cao trình độ chuyên môn.

    Hội Kế toán địa chất Việt Nam (HĐC)

    VAA ghi nhận vai trò, vị trí của Hội bằng việc nâng cấp từ Phân hội thành Hội, VAA cũng ghi nhận những thành công của Hội mặc dù hoạt động chưa được nhiều và chỉ đạo HĐC  nên đẩy mạnh các hoạt động, tạo nguồn để gây dựng quỹ và có thù lao cho người làm kiêm nhiệm công tác Hội, bằng cách làm đề tài, tư vấn, nghiên cứu, mở lớp đào tạo Kế toán trưởng và chuyên môn tài chính kế toán cho các đơn vị trực thuộc, nhằm nâng cao trình độ cho hội viên; động viên hội viên tham gia CLB Kế toán trưởng toàn quốc để cập nhật chính sách, chế độ mới và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn.

    Hội Kế toán thành phố Hà Nội (HHN): Đã tổ chưc thành công đại hội nhiệm kỳ, ngay sau Đại Hội Ban thường vụ đã hoàn thiện các văn kiện Đại hội; tổ chức các lớp bồi dưỡng cập nhật chính sách, chế độ mới; tổ chức hội thảo trao đổi nghề nghiệp; tập huấn về cơ chế tài chính xây dựng nông thôn mới; tổ chức tập huấn nghiệp vụ chế độ kế toán hành chính sự nghiệp; trao đổi nghiệp vụ về trích lập và sử dụng kinh phí quản lý dự án….. Tổ chức các hoạt động giao lưu giữa Hội với các Chi, phân hội.

    Về công tác quản lý hội: năm 2013, đã thành lập thêm 3 Chi hội với 289 hội viên. Năm 2014, thành lập thêm 01 chi hội với 135 hội viên.

    Hội Kế toán thành phố Hà Nội (HHN)

    Lãnh đạo VAA ghi nhận và biểu dương những kết quả hoạt động của HHN và có ý kiến chỉ đạo:

    - Về công tác tổ chức, năm 2015 nên tăng cường phát triển thêm hội địa phương

    - Nên phát triển các chi hội chuyên ngành

    - Hình thức sinh hoạt hội viên nên mang sắc thái của hội như tổ chức thi kế toán giỏi ở lĩnh vực doanh nghiệp và hành chính sự nghiệp.

    - Cần tích cực tham mưu cho quận uỷ, uỷ ban.

    - Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tư vấn phản biện cần phát triển thêm vì Hà Nội là trung tân của đất nước, cơ chế chính sách của Nhà nước có nhiều thay đổi, tác động đến mọi lĩnh vực, nên có thể dựa vào các Chi hội để mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ.

    - Tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan TW Hội, tham gia tích cực hơn vào tổ chức CLB Kế toán trưởng toàn quốc.

    HHN cũng đề xuất TW Hội nên có chỉ đạo định hướng cho các Hội trong vòng vài tháng, nên truyền tải những chính sách, chế độ mới tới các hội thành viên.

    Hội Kế toán Kho bạc Nhà nước (VSTAA): Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của  VSTAA là tham gia với các cấp chính quyền về các đề án, chính sách liên quan đến công tác kế toán Nhà nước. Theo đó, chương trình hành động, nội dung sinh hoạt của VSTAA và của các Chi hội luôn gắn chặt với công tác chuyên môn, bám sát thực tiễn hoạt động nghiệp vụ của ngành và chương trình công tác của từng đơn vị, tham gia tích cực và hiệu quả vào việc xây dựng chế độ Kế toán Nhà nước áp dụng cho TABMIS, Quy trình nghiệp vụ thanh toán điện tử Liên Kho bạc, Quy trình nghiệp vụ Thanh toán song phương… tham gia xây dựng các quy định khác liên quan đến hoạt động điều hành, thực hiện NSNN.

    Hội Kế toán Kho bạc Nhà nước (VSTAA)

    Hoạt động nghiên cứu khoa học: Hội viên VSTAA là thành viên tích cực, chủ chốt tham gia nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển KBNN, với nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, đề án ứng dụng mang ý nghĩa thiết thực, được phê duyệt để đưa vào áp dụng trong thực tế.

    Hoạt động đào tạo: Phối hợp đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ kế toán KBNN các cấp với đối tượng đa dạng từ Trưởng phòng kế toán KBNN tỉnh đến các kế toán viên KBNN quận, huyện; các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, cấp chứng chỉ kế toán trưởng.

    Tổ chức sinh hoạt chuyên đề: Thường xuyên tổ chức cho các hội viên nghiên cứu, học tập nghiệp vụ tại các cấp hội nhằm đạt mục tiêu một người giỏi một việc, biết nhiều việc trong lĩnh vực kế toán, đáp ứng nhu cầu công việc.

    Tổ chức Hội thi Nghiệp vụ kế toán toàn hệ thống KBNN dưới hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính thời gian dự kiến khoảng tháng 3/2015.

    VAA đánh giá cao những kết quả mà VSTAA đã đạt được và có ý kiến chỉ đạo:

    -VSTAA cần tăng cường giúp Cơ quan phát triển nội dung trả lời giải đáp thắc mắc nghiệp vụ, nhằm kết nối được với các tổ chức địa phương và khách hàng

    -Tăng cường phối hợp giữa VSTAA và Trung tâm NC&TV KHKT VAA mở các lớp hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước

    -VSTAA nên tuyên truyền trên website của VAA và Tạp chí Kế toán và Kiểm toán về đề án triển khai Tổng Kế toán Nhà nước và các hoạt động của mình.

    - VAA ủng hộ việc tổ chức Hội thi nghiệp vụ kế toán Nhà nước toàn quốc và sẵn sang tạo điều kiện giúp VSTAA trong khâu tổ chức. VAA cũng đề nghị VSTAA động viên kế toán trưởng Kho bạc Nhà nước các cấp tham gia sinh hoạt CLB Kế toán trưởng toàn quốc.

    Thông các cuộc làm việc giữa VAA và các Hội thành viên, các Hội thành viên đều nhất trí tiếp thu các ý kiến chỉ đạo của VAA và đề xuất cần thường xuyên có các cuộc làm việc, gặp gỡ, trao đổi, chỉ đạo để cơ quan TW VAA và Hội thành viên tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau, tranh thủ các cơ hội hỗ trợ, hợp tác, góp phần phát triển tổ chức nghề nghiệp Kế toán và Kiểm toán VN. 

    Ngân hàng phản ánh doanh nghiệp vay vốn có tiền, hoạt động bình thường nhưng không chịu trả nợ... Các định hướng cơ bản cho năm 2015 đã được Ngân hàng Nhà nước đưa ra tại hội nghị toàn ngành, hôm 25/12.

    Đó là: kiểm soát tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16 - 18%; tín dụng tăng trưởng khoảng 13 - 15%; giảm được nợ xấu về dưới 3%; tiếp tục ổn định tỷ giá; thực hiện các giải pháp về lãi suất và tín dụng để tăng hỗ trợ doanh nghiệp; tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống…

    “Không muốn lãi suất tăng lên”
    Riêng về điều hành tỷ giá, tại hội nghị, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng chính thức nêu định hướng năm 2015 nếu có điều chỉnh sẽ không quá 2%; mục tiêu chung là tiếp tục giữ ổn định.
    Về lãi suất, Thống đốc nhìn lại rằng, trong năm 2014, mục tiêu kéo lãi suất cho vay về quanh 10% đã hiện thực; mặt bằng lãi suất nói chung đã thấp hơn những năm 2005-2006.
    Cho rằng các ngân hàng không muốn lãi suất tăng lên, vẫn tiếp tục tìm hướng có thể giảm thêm để hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước nhìn nhận, việc duy trì được mặt bằng lãi suất hiện nay trong năm tới là hết sức khó khăn. Một mặt, nhu cầu vốn của nền kinh tế có thể tăng lên, cùng đó lạm phát vẫn là yếu tố không thể chủ quan; cả hai có thể gây sức ép lên lãi suất.

    Với lạm phát, Thống đốc phân tích rằng, năm 2014 ở mức thấp do có những yếu tố đột biến, đặc biệt là tác động từ sự sụt giảm mạnh và nhanh của giá dầu thế giới. Cùng đó, do Tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 2 dương lịch, nên áp lực lạm phát không thể hiện ở cuối năm nay như thông thường các năm.
    Cũng về lãi suất, tại hội nghị, ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Tp.HCM, đưa ra một kết quả tham khảo. Đó là chương trình kết nối ngân hàng với doanh nghiệp, mà Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo và phối hợp với chính quyền địa phương.

    Tại Tp.HCM, sau hai năm triển khai, qua 42 đợt kết nối, đã có hàng nghìn doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã tham gia. Riêng năm 2014 tổng số vốn ký kết cho vay qua chương trình này đã lên tới 40.026 tỷ đồng, vượt kế hoạch được giao.
    Đáng chú ý, ông Minh cho biết, các doanh nghiệp tham gia vay chương trình trên, dù không thuộc diện ưu đãi, nhưng với ngắn hạn đã vay được lãi suất tối đa là 7%/năm, 10%/năm với trung dài hạn.

    Mục tiêu giảm nợ xấu là khả thi
    Phát biểu tại hội nghị, ông Lê Công, Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội (MB), đưa ra thông tin “đáng mừng” về tình hình nợ xấu tại ngân hàng mình: kiểm soát dưới 3%.
    “Đáng mừng”, bởi đến cuối quý 3/2014, nợ xấu của MB chớm trên 3%. Điều này khiến một số nhà đầu tư, hoặc các đầu mối liên quan quan ngại về việc đảm bảo yêu cầu trong cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán (theo Thông tư 36 vừa ban hành, ngân hàng nào có nợ xấu trên 3% sẽ phải ngừng nghiệp vụ này).
    Tổng giám đốc MB kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể hơn, hỗ trợ từng ngân hàng trong quá trình thực hiện các chính sách quan trọng trong Thông tư 02/Thông tư 09 (về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro) và Thông tư 36 (về các giới hạn, tỷ lệ an toàn trong hoạt động).

    Ông Lê Công cho rằng, các chính sách trên là hướng hệ thống hoạt động theo thông lệ tốt của quốc tế, nên dù có tác động có thể khiến hoạt động ngân hàng nói chung khó khăn trong năm tới nhưng sẽ quyết tâm thực hiện theo lộ trình.
    Với nợ xấu, lãnh đạo MB nhấn mạnh lại quan điểm được đề cập đến nhiều thời gian qua, rằng: vấn đề nợ xấu là của cả nền kinh tế, chỉ ngành ngân hàng không xử lý được, mà cần sự phối hợp của các bộ, ngành và doanh nghiệp.
    Trong mối quan hệ trên, ông Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Công thương (VietinBank), phản ánh một hiện tượng đáng chú ý về sự phối hợp của doanh nghiệp, khách hàng vay vốn.
    Theo ông Thắng, thực tế hoạt động cho thấy, tại nhiều địa bàn, khách hàng có tài sản những ngân hàng không thể thu hồi. Và trong lịch sử ngành ngân hàng, chưa bao giờ có chuyện là ngân hàng phải đi ốp cơ quan thi hành án, để cùng xử lý vấn đề nợ xấu.

    Thậm chí, cũng theo Chủ tịch VietinBank, có những trường hợp cho vay làng nghề, mặc dù người vay có tiền nhưng lại không chịu trả nợ, phát mại tài sản thì không chịu hợp tác; hay tại Hải Phòng, có doanh nghiệp làm ăn bình thường nhưng cũng không trả nợ ngân hàng…
    Thế nên, ông Thắng vẫn tiếp tục kiến nghị (vấn đề đã đề cập suốt vài năm qua), Ngân hàng Nhà nước làm sao đó để tìm các giải pháp phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tư pháp…, tạo những khuôn khổ pháp lý hỗ trợ các ngân hàng trong việc thu hồi nợ, xử lý tài sản đảm bảo.

    Dù gặp những khó khăn như vậy, nhưng Chủ tịch VietinBank vẫn tin rằng, mục tiêu giảm được nợ xấu về dưới 3% vào cuối 2015 mà Quốc hội đã giao là khả thi.

    Trước đó, khi trả lời VnEconomy về mục tiêu giảm nợ xấu mà Quốc hội đã thông qua, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng nhìn nhận, dù áp lực nhưng đây là một mục tiêu khả thi.

    Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh vừa yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục thực hiện nghiêm túc các cam kết về thuế nhập khẩu trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) của Việt Nam giai đoạn 2015-2018.

    Trong công văn hoả tốc gửi 4 bộ: Tài chính, Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư, Ngoại giao, Phó thủ tướng cho biết, theo báo cáo của Bộ Tài chính, Việt Nam đã ký kết 8 hiệp định FTA song phương và đa phương, trong đó có nghĩa vụ về thuế nhập khẩu.

    Hầu hết các FTA mà Việt Nam đã ký kết thì mức độ tự do hóa trung bình khoảng 90% số dòng thuế, trừ hiệp định ASEAN là hiệp định nội khối với mức cam kết tự do hóa gần 100%. Mức độ tự do hóa cuối cùng trong các FTA dự kiến đạt khoảng 90-97% số dòng thuế với thuế suất cuối cùng về 0% vào thời điểm 2020.

    Theo đánh giá quá trình tham gia FTA của Việt Nam của Bộ Tài chính đến nay là hợp lý, phát triển theo chiều rộng và chuyển dần sang chiều sâu, lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu có phân loại theo các danh mục và đa số có tính thống nhất hầu hết các hiệp định thương mại tự do. Các mặt hàng Việt Nam có lợi thế và cần nguyên liệu cho sản xuất trong nước thì cắt giảm trước, các mặt hàng nhạy cảm, có thuế suất cao thì cắt giảm chậm hơn. 

    Với thực tế đó, trên cơ sở đề xuất của Bộ Tài chính, Phó thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương cần chủ động nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khi thực hiện cam kết về thuế nhập khẩu trong các FTA giai đoạn 2015-2018 để phát triển kinh tế hiệu quả, bền vững, khắc phục những tác động tiêu cực, đảm bảo thực hiện các mục tiêu, yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế đã đề ra.

    Theo kế hoạch, trong đầu năm 2015 tới, Việt Nam sẽ tiếp tục ký hàng loạt hiệp định FTA với một số nước hiện đã hoàn tất đàm phán như Hàn Quốc, liên minh thuế - hải quan của Nga, Belarus, Kazakhstan…

    Tiếp thu ý kiến và thông tin của một số địa phương và cơ quan báo chí phản ánh về một số bất cập sau khi Công văn số 17526/BTC-TCT ngày 01/12/2014 được ban hành để triển khai thực hiện một số nội dung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế. Theo đó, dư luận cho rằng việc hướng dẫn thi hành quy định tính mức thuế khoán ổn định cho năm 2015 cho các hộ kinh doanh cá thể được thực hiện từ ngày 01/01/2015 đã gây khó khăn cho người dân trong việc kinh doanh và nộp thuế.

    Ngay sau khi nhận được thông tin phản ánh, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng Cục Thuế khẩn trương rà soát lại các nội dung được đề cập tại Công văn số 17526/BTC-TCT. Trên cơ sở kết quả rà soát, ngay trong ngày 16/12/2014, Tổng Cục Thuế đã ban hành Công văn số 5603/TCT-CS chỉ đạo Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nội dung công văn nêu rõ"Việc sử dụng hóa đơn của hộ, cá nhân kinh doanh tiếp tục được thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính".

    Tổng cục Thuế đã hoàn thành nâng cấp các phần mềm ứng dụng HTKK phiên bản 3.3.0, iHTKK phiên bản 3.1.0 và quyết toán thuế TNCN phiên bản 3.2.0 nhằm hỗ trợ kê khai quyết toán thuế năm 2014.

    Theo đó, nội dung nâng cấp ứng dụng HTKK, iHTKK như sau:

    - Nâng cấp và bổ sung mới các chức năng kê khai tờ khai quyết toán thuế theo Thông tư 156/2013/TT-BTC, 151/2014/TT-BTC.

    - Nâng cấp các chức năng kê khai tờ khai thuế GTGT theo Thông tư 119/2014/TT-BTC.    

    - Một số nội dung nâng cấp khác, như là: Bổ sung mới chức năng kê khai Tờ khai phí, lệ phí (mẫu số 01/PHLP) trên ứng dụng HTKK theo Thông tư 156; hỗ trợ kết xuất dữ liệu các tờ khai thuế ra file định dạng xml phục vụ gửi tờ khai qua mạng…

    Ngoài ra, khi cài đặt phần mềm HTKK 3.3.0, người sử dụng không cần gỡ bỏ ứng dụng HTKK 3.1.7 nếu trên máy tính trước đây đã cài đặt phiên bản 3.1.7.

    Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 213/2014/TT-BTC sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng máy bay, nhiên liệu bay thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.

    Ảnh minh họa. Nguồn: internet.

    Theo đó, nâng thuế suất các mặt hàng gồm: Xăng máy bay, trừ loại sử dụng làm nhiên liệu máy bay phản lực (mã 2710.12.20); nhiên liệu động cơ máy bay có độ chớp cháy từ 23 độ C trở lên (mã 2710.19.81) và nhiên liệu động cơ máy bay có độ chớp cháy dưới 23 độ C (mã 2710.19.82) từ 5% và 7% lên 20%.

    Mức thuế suất này áp dụng từ 1-1-2015.

    Trước đó, từ ngày 6-12-2014, thuế nhập khẩu ưu đãi một số mặt hàng xăng dầu trong nhóm 2710 đều đã được điều chỉnh tăng với mức cụ thể như sau: Đối với xăng tăng từ 18% lên 27%, dầu diesel từ 14% lên 23%, dầu hỏa từ 16% lên 26%, dầu mazut từ 15% lên 24%.

    Việc điều chỉnh thuế suất này được thực hiện căn cứ trên khung mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi các mặt hàng xăng dầu thuộc nhóm 2710 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi tương ứng với giá các mặt hàng xăng dầu trên thị trường thế giới do Bộ Tài chính công bố ngày 4-12-2014.

    Ngày 21/1, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 07/2015/TT-BTC  về việc bãi bỏ Thông tư số 06/2015/TT-BTC ngày 20/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc sửa đổi về sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21 tháng 01 năm 2015

     Theo đó, bãi bỏ Thông tư số 06/2015/TT-BTC ngày 20/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.

    Các mặt hàng xăng dầu thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi tiếp tục thực hiện theo mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi quy định tại Thông tư số 03/2015/TT-BTC ngày 06/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu thuộc nhóm 27.10 tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.

    Đối với các Tờ khai hàng hoá nhập khẩu của mặt hàng xăng dầu đăng ký với cơ quan hải quan từ ngày 21/01/2015 mà đã thực hiện tính thuế  theo mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi quy định tại Thông tư số 06/2015/TT-BTC ngày 20/01/2015 thì được thực hiện hoàn thuế theo các mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi quy định tại Thông tư số 03/2015/TT-BTC ngày 6/1/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

    Ngày 10/3/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2015

    Theo cam kết tại Hiệp định thương mại tự do trong nội khối ASEAN (Hiệp định ATIGA), Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Trung Quốc (Hiệp định ACFTA) và Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Hàn Quốc (Hiệp định AKFTA), Việt Nam phải thực hiện Lộ trình cắt giảm mức thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với các mặt hàng xăng dầu. Với Lộ trình cắt giảm mức thuế nhập khẩu xăng dầu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định ATIGA, Hiệp định ACFTA và Hiệp định AKFTA thì chênh lệch giữa mức thuế nhập khẩu tối huệ quốc (mức thuế MFN) hiện hành với mức thuế nhập khẩu theo các Hiệp định nêu trên là từ 5%-35% tuỳ chủng loại và khoảng cách này ngày càng tăng vào các năm tiếp theo.

    Như vậy, cùng một mặt hàng (xăng dầu) sẽ có nhiều mức thuế nhập khẩu khác nhau (MFN, ATIGA, ACFTA, AKFTA), dẫn đếnrủi ro về ngân sách nhà nước, cũng như rủi ro cho cả kinh tế trong nước khi các nước xuất khẩu tăng giá bán xăng dầu. Để thống nhất mức thuế nhập khẩu đối với xăng dầu thì cần phải điều chỉnh mức thuế MFN bằng mức thuế ưu đãi nhất theo các cam kết quốc tế (mức thuế ATIGA). Điều này chắc chắn sẽ tác động làm giảm thu ngân sách nhà nước.

    Mặt khác, kể từ quý III/2014 đến nay, giá dầu liên tục giảm mạnh và duy trì ở mức thấp. Để ứng phó với tình hình giá dầu giảm và duy trì ở mức thấp, nhiều nước đã nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế theo hướng tăng và mở rộng đối tượng để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

    Như vậy, cùng với việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu, để ứng phó với tình hình giá dầu giảm và duy trì ở mức thấp; đồng thời để tạo chênh lệch giữa giá bán xăng E5 và xăng khoáng, từ đó khuyến khích người dân sử dụng nhiên liệu sinh học; ngày 10/3/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14/7/2011 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường, trong đó đề nghị điều chỉnh mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, như sau: Tăng mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít; Nhiên liệu bay tăng từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít; Dầu diezel: tăng từ 500 đồng/lít lên 1.500 đồng/lít; Dầu mazut, dầu nhờn: tăng từ 300 đồng/lít lên 900 đồng/lít; Mỡ nhờn: tăng từ 300 đồng/kg lên 900 đồng/kg. Dự kiến Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2015.

    Việc điều chỉnh tăng thuế bảo vệ môi trường như trên sẽ không làm tăng giá xăng, dầu trong nước khi cùng một mặt bằng giá xăng dầu thế giới, cơ cấu thuế trong giá xăng, dầu không tăng mà còn giảm (mức tăng thuế bảo vệ môi trường như trên vẫn thấp hơn mức thuế nhập khẩu giảm do thực hiện theo các cam kết quốc tế). Hơn nữa, việc tăng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu là phù hợp với mục tiêu đánh vào hàng hóa gây ảnh hưởng xấu đến môi trường của thuế bảo vệ môi trường (xăng dầu là sản phẩm chứa các chất hóa học, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường ở diện rộng, do đó, cần quy định mức thuế cao đối với xăng dầu - trước đây, Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 chỉ quy định mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu ở mức tối thiểu trong khung thuế suất và bằng mức phí xăng dầu là để không gây xáo trộn trong việc quản lý thu khi chuyển từ phí xăng dầu sang thuế BVMT đối với xăng dầu).

    Trên cơ sở mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, Bộ Tài chính sẽ thực hiện điều hành chính sách thuế nhập khẩu xăng dầu phù hợp để người dân được hưởng lợi khi giá xăng dầu thế giới giảm.

    Nếu cộng thêm cả thuế bảo vệ môi trường đối với xăng tăng thêm (2.000 đồng/lít) thì giá xăng Ron 92 của Việt Nam vẫn thấp hơn giá xăng Ron 92 của một số nước trong khu vực (thấp hơn Campuchia: 4.198 đồng/lít; Lào: 5.290 đồng/lít; Trung Quốc: 918 đồng/lít; thấp hơn Thái Lan: 2.045 đồng/lít tại thời điểm ngày 10/03/2015.

    Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, quyết toán thuế thu nhập cá nhân (QTT) năm 2014 cần lưu ý một số điểm sau:
     

    Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

    Thứ nhất, về đối tượng quyết toán thuế TNCN
    Đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế có trách nhiệm khai QTT và QTT thay cho cá nhân có uỷ quyền. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập trong năm 2014 thì không phải khai QTT TNCN. Tổ chức trả thu nhập chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể hoặc phá sản thì phải QTT đối với số thuế TNCN đã khấu trừ chậm nhất là ngày thứ 45 kể từ ngày có quyết định về việc chia, tách, … và cấp chứng từ khấu trừ thuế cho người lao động để làm cơ sở thực hiện QTT. Riêng tổ chức, cá nhân trả thu nhập giải thể, chấm dứt hoạt động có phát sinh trả thu nhập nhưng không phát sinh khấu trừ thuế thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không thực hiện QTT, chỉ cung cấp cho cơ quan Thuế danh sách cá nhân đã chi trả thu nhập trong năm (nếu có) theo Mẫu 25/DS-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 151/2014/TT-BTC chậm nhất là ngày thứ 45 kể từ ngày có quyết định về việc giải thể, chấm dứt hoạt động. Trường hợp sau khi tổ chức lại doanh nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi), người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới, cuối năm người lao động có ủy quyền QTT thì tổ chức mới phải thu lại chứng từ khấu trừ thuế TNCN do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động để làm căn cứ tổng hợp thu nhập, số thuế đã khấu trừ và QTT thay cho người lao động.
    Đối với cá nhân trực tiếp QTT, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh có trách nhiệm khai QTT nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ thuế vào kỳ khai thuế tiếp theo, trừ các trường hợp: Số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau; Cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán; Cá nhân, hộ gia đình chỉ có thu nhập từ việc cho thuê nhà, cho thuê QSDĐ đã thực hiện nộp thuế theo kê khai tại nơi có nhà, QSDĐ cho thuê; Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân không quá 10 triệu/tháng trong năm và đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế tại nguồn theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không QTT đối với phần thu nhập này; Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê QSDĐ có doanh thu bình quân không quá 20 triệu/tháng trong năm, đã nộp thuế tại nơi có nhà cho thuê, có QSDĐ cho thuê nếu không có yêu cầu thì không QTT đối với phần thu nhập này; Cá nhân là đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp đã được tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế TNCN thì không QTT đối với phần thu nhập này.
    Cá nhân cư trú có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, cuối năm nếu có yêu cầu áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế thì thực hiện khai QTT trực tiếp với cơ quan Thuế. Trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đã nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần mà không có yêu cầu xác định lại số thuế TNCN theo thuế suất 20% thì không phải QTT.
    Về việc ủy quyền QTT TNCN. Trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập QTT đối với phần thu nhập do tổ chức, cá nhân trả trong các trường hợp: Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một tổ chức, cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm uỷ quyền QTT, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm; Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân không quá 10 triệu/tháng trong năm đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%, nếu cá nhân không có yêu cầu QTT đối với thu nhập vãng lai thì được ủy quyền QTT tại tổ chức trả thu nhập ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên. Nếu cá nhân có yêu cầu QTT đối với thu nhập vãng lai thì cá nhân trực tiếp QTT với cơ quan Thuế; Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thêm thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê QSDĐ có doanh thu bình quân không quá 20 triệu/tháng trong năm đã nộp thuế TNCN tại nơi có nhà, có QSDĐ cho thuê nếu không có yêu cầu QTT đối với thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê quyền QSDĐ thì được ủy quyền QTT tại tổ chức trả thu nhập ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên. Nếu cá nhân có yêu cầu QTT đối với thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê QSDĐ thì cá nhân trực tiếp quyết toán với cơ quan Thuế.
    Cá nhân ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thay theo mẫu số 04-2/TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC, kèm theo bản chụp hóa đơn, chứng từ chứng minh đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học (nếu có).
    Trường hợp cá nhân đảm bảo điều kiện được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập QTT theo hướng dẫn nêu trên nhưng đã được tổ chức, cá nhân trả thu nhập cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN thì không ủy quyền QTT cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập (trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thu hồi và hủy chứng từ khấu trừ thuế đã cấp cho cá nhân); Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công không đảm bảo điều kiện được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập QTT theo hướng dẫn trên, nhưng thuộc diện phải QTT theo quy định thì trực tiếp QTT với cơ quan Thuế trên toàn bộ thu nhập phát sinh trong năm; Cá nhân vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị; vừa có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân không quá 10 triệu/tháng trong năm đã khấu trừ thuế; vừa có thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê QSDĐ có doanh thu bình quân không quá 20triệu/tháng trong năm đã nộp thuế TNCN tại nơi cho thuê thì không ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập QTT.
    Trường hợp cá nhân sau khi đã ủy quyền QTT, tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thực hiện QTT thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp QTT với cơ quan Thuế thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không điều chỉnh lại QTT, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: “Công ty … đã QTT TNCN thay cho …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự) … của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-TNCN” để cá nhân trực tiếp QTT với cơ quan Thuế.
    Thứ hai, về căn cứ tính thuế TNCN
    Thu nhập chịu thuế được xác định theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013; Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014; Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính. Đối với khoản tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) không bao gồm: Khoản lợi ích về nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng, cung cấp miễn phí cho người lao động (NLĐ) làm việc tại khu công nghiệp; nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng tại khu kinh tế, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn cung cấp miễn phí cho NLĐ được áp dụng từ 01/01/2014. Các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế được tổng hợp tại Danh mục tổng hợp các khoản phụ cấp, trợ cấp do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành làm cơ sở xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công, ban hành tại công văn số 1381/TCT-TNCN ngày 24/4/2014 của Tổng cục Thuế.
    Các khoản giảm trừ được trừ vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trước khi xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh; Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân cư trú chưa tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân hoặc tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được tính đủ 12 tháng nếu thực hiện QTT theo quy định. 
    Việc giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc mà NNT có nghĩa vụ nuôi dưỡng được tính kể từ tháng có phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng; Cần lưu ý như sau: Người phụ thuộc (NPT) đã đăng ký và có đầy đủ hồ sơ chứng minh NPT thì được tính giảm trừ gia cảnh trong năm 2014, kể cả trường hợp NPT chưa được cơ quan Thuế cấp MST. Trường hợp NNT đăng ký giảm trừ NPT sau thời điểm thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng tại Mẫu số 16/ĐK-TNCN khai “thời điểm tính giảm trừ” đúng với thời điểm thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng thì khi QTT được tính lại theo thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng mà không phải đăng ký lại; Trường hợp NNT đăng ký giảm trừ NPT sau thời điểm thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng và tại Mẫu số 16/ĐK-TNCN khai sau thời điểm thực tế phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng, nếu cá nhân thuộc diện phải QTT thì khi QTT để được tính lại theo thực tế phát sinh. Cá nhân đăng ký lại tại Mẫu số 16/ĐK-TNCN và gửi kèm theo hồ sơ QTT.
    Trường hợp NNT chưa tính giảm trừ gia cảnh cho NPT trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ gia cảnh cho NPT kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi NNT thực hiện QTT và đã khai đầy đủ thông tin NPT vào mẫu phụ lục Bảng kê 05-3/BK-TNCN; Trường hợp NNT có phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với NPT khác như: anh, chị, em ruột; ông, bà nội ngoại; cô, dì… thì thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31/12/2014, nếu đăng ký giảm trừ gia cảnh quá thời hạn nêu trên NNT không được giảm trừ gia cảnh đối với NPT đó cho năm 2014.
    Thứ ba, thủ tục, hồ sơ quyết toán thuế TNCN
    Về hồ sơ khai QTT năm 2014 cần lưu ý như sau: Trường hợp tổ chức trả thu nhập không cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân do tổ chức trả thu nhập đã chấm dứt hoạt động thì cơ quan Thuế căn cứ cơ sở dữ liệu của ngành Thuế để xem xét xử lý hồ sơ QTT cho cá nhân mà không bắt buộc phải có chứng từ khấu trừ thuế; Trường hợp NNT bị mất chứng từ khấu trừ thuế thì NNT có thể sử dụng bản chụp chứng từ khấu trừ thuế (liên lưu tại tổ chức chi trả thu nhập) để chứng minh số thuế thu nhập đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm khi hoàn thuế, QTT. Cơ quan Thuế nhận hồ sơ có trách nhiệm đối chiếu chứng từ khấu trừ thuế NNT cung cấp với các thông tin trên hệ thống dữ liệu ngành Thuế và một số tài liệu khác liên quan khi giải quyết hồ sơ hoàn thuế, QTT cho NNT; Tổ chức, cá nhân trả thu nhập khai đầy đủ số lượng người phụ thuộc đã tính giảm trừ trong năm 2014 vào Phụ lục Bảng kê 05-3/BK-TNCN kèm theo hồ sơ QTT để làm cơ sở cấp MST cho NPT. Đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập có số lượng NPT lớn hoặc có yêu cầu được cấp trước MT NPT có thể gửi thông tin về NPT trước khi gửi hồ sơ QTT. Cơ quan Thuế có trách nhiệm hỗ trợ để đơn vị có thể gửi trước thông tin về NPT. Khi gửi hồ sơ QTT năm 2014, tại Phụ lục Bảng kê 05-3/BK-TNCN tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phải khai lại thông tin những NPT đã được cấp MST do gửi trước mà chỉ khai thông tin của những NPT còn lại đã tính giảm trừ trong năm 2014.
    Cá nhân trả thu nhập và cá nhân thuộc diện khai QTT nộp hồ sơ QTT chậm nhất là ngày thứ 90 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.
    Thứ tư, hoàn thuế TNCN
    Việc hoàn thuế TNCN đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thay cho các cá nhân có ủy quyền QTT thực hiện theo quy định tại Điều 28 Thông tư số 111/2013/TT-BTC và Điều 53 Thông tư số 156/2013/TT-BTC. Theo đó, hồ sơ hoàn thuế của tổ chức, cá nhân trả thu nhập không bao gồm tờ khai QTT (áp dụng đối với tổ chức, cá nhân đã nộp tờ khai QTT cho cơ quan Thuế).
    Việc hoàn thuế TNCN đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp quyết toán với cơ quan Thuế; cá nhân có thu nhập từ kinh doanh; cá nhân chuyển nhượng chứng khoán có yêu cầu quyết toán thuế thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 28 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
    Cơ quan Thuế thực hiện hoàn thuế TNCN theo Quy trình hoàn thuế ban hành kèm theo Quyết định số 905/QĐ-TCT ngày 01/7/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế và công văn số 3228/TCT-KK ngày 12/8/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm tại quy trình hoàn thuế 905/QĐ-TCT ngày 01/7/2011.
    TT
    Ngày 10/3/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2015. Việc tăng thuế BVMT cùng với việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu theo các cam kết quốc tế sẽ không làm tăng giá bán lẻ xăng, dầu trong nước khi cùng một mặt bằng giá xăng dầu thế giới, cơ cấu thuế trong giá xăng, dầu không tăng mà còn giảm.
     

    Thuế BVMT là công cụ hữu hiệu ngăn chặn các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, 
    khuyến khích ý thức tiết kiệm và giảm bớt sự lãng phí trong quá trình khai thác, 
    sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. (Nguồn Internet)

    Theo cam kết tại Hiệp định thương mại tự do trong nội khối ASEAN (Hiệp định ATIGA), Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Trung Quốc (Hiệp định ACFTA) và Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Hàn Quốc (Hiệp định AKFTA), Việt Nam phải thực hiện Lộ trình cắt giảm mức thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với các mặt hàng xăng dầu. Với Lộ trình cắt giảm mức thuế nhập khẩu xăng dầu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định ATIGA, Hiệp định ACFTA và Hiệp định AKFTA thì chênh lệch giữa mức thuế nhập khẩu tối huệ quốc (mức thuế MFN) hiện hành với mức thuế nhập khẩu theo các Hiệp định nêu trên là từ 5%-35% tuỳ chủng loại và khoảng cách này ngày càng tăng vào các năm tiếp theo.

    Như vậy, cùng một mặt hàng (xăng dầu) sẽ có nhiều mức thuế nhập khẩu khác nhau (MFN, ATIGA, ACFTA, AKFTA), dẫn đến rủi ro về ngân sách nhà nước, cũng như rủi ro cho cả kinh tế trong nước khi các nước xuất khẩu tăng giá bán xăng dầu. Để thống nhất mức thuế nhập khẩu đối với xăng dầu thì cần phải điều chỉnh mức thuế MFN bằng mức thuế ưu đãi nhất theo các cam kết quốc tế (mức thuế ATIGA). Điều này chắc chắn sẽ tác động làm giảm thu ngân sách nhà nước.

    Mặt khác, kể từ quý III/2014 đến nay, giá dầu liên tục giảm mạnh và duy trì ở mức thấp. Để ứng phó với tình hình giá dầu giảm và duy trì ở mức thấp, nhiều nước đã nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế theo hướng tăng và mở rộng đối tượng để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

    Như vậy, cùng với việc giảm thuế nhập khẩu xăng dầu, để ứng phó với tình hình giá dầu giảm và duy trì ở mức thấp; đồng thời để tạo chênh lệch giữa giá bán xăng E5 và xăng khoáng, từ đó khuyến khích người dân sử dụng nhiên liệu sinh học; ngày 10/3/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14/7/2011 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường, trong đó đề nghị điều chỉnh mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, như sau: Tăng mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít; Nhiên liệu bay tăng từ 1.000 đồng/lít lên 3.000 đồng/lít; Dầu diezel: tăng từ 500 đồng/lít lên 1.500 đồng/lít; Dầu mazut, dầu nhờn: tăng từ 300 đồng/lít lên 900 đồng/lít; Mỡ nhờn: tăng từ 300 đồng/kg lên 900 đồng/kg. Dự kiến Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2015.

    Việc điều chỉnh tăng thuế bảo vệ môi trường như trên sẽ không làm tăng giá xăng, dầu trong nước khi cùng một mặt bằng giá xăng dầu thế giới, cơ cấu thuế trong giá xăng, dầu không tăng mà còn giảm (mức tăng thuế bảo vệ môi trường như trên vẫn thấp hơn mức thuế nhập khẩu giảm do thực hiện theo các cam kết quốc tế). Hơn nữa, việc tăng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu là phù hợp với mục tiêu đánh vào hàng hóa gây ảnh hưởng xấu đến môi trường của thuế bảo vệ môi trường (xăng dầu là sản phẩm chứa các chất hóa học, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường ở diện rộng, do đó, cần quy định mức thuế cao đối với xăng dầu - trước đây, Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 chỉ quy định mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu ở mức tối thiểu trong khung thuế suất và bằng mức phí xăng dầu là để không gây xáo trộn trong việc quản lý thu khi chuyển từ phí xăng dầu sang thuế BVMT đối với xăng dầu).

    Trên cơ sở mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, Bộ Tài chính sẽ thực hiện điều hành chính sách thuế nhập khẩu xăng dầu phù hợp để người dân được hưởng lợi khi giá xăng dầu thế giới giảm.

    Nếu cộng thêm cả thuế bảo vệ môi trường đối với xăng tăng thêm (2.000 đồng/lít) thì giá xăng Ron 92 của Việt Nam vẫn thấp hơn giá xăng Ron 92 của một số nước trong khu vực (thấp hơn Campuchia: 4.198 đồng/lít; Lào: 5.290 đồng/lít; Trung Quốc: 918 đồng/lít; thấp hơn Thái Lan: 2.045 đồng/lít tại thời điểm ngày 10/03/2015.

    NA

    Ngày 9/3/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 30/2015/TT-BTC hướng dẫn chi tiết việc lập dự toán, thanh toán và quyết toán các khoản hỗ trợ doanh nghiệp theo Nghị định số 210/2013/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27/4/2015 và thay thế Thông tư số 84/2011/TT-BTC ngày 16/6/2011 của Bộ Tài chính.
    Theo đó, Thông tư quy định các đối tượng là các doanh nghiệp được thành lập và đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp được nhận ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định tại Nghị định số 210/2013/NĐ-CP. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc thực hiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
    Thông tư quy định cụ thể về chế độ ưu đãi, miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước, thanh toán hỗ trợ NSNN về tiền thuê đất, thuê mặt nước của hộ gia đình, cá nhân; Hỗ trợ đào tạo nhân lực, phát triển thị trường và áp dụng khoa học công nghệ; Hỗ trợ tài chính các hạng mục xây dựng của cơ sở kinh doanh và hỗ trợ khác...
    Thông tư cũng quy định 5 nguyên tắc thanh toán kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ. Trong đó có một số quy định như: Ngân sách nhà nước thực hiện hỗ trợ sau đầu tư, khi hạng mục đầu tư, gói thầu của dự án hoàn thành được tạm ứng, thanh toán 70% mức hỗ trợ theo hạng mục, gói thầu; sau khi dự án hoàn thành đầu tư và được nghiệm thu thì được thanh toán 30% mức vốn còn lại. Đối với khoản hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường được tạm ứng tối đa 70% mức vốn hỗ trợ ngay sau khi doanh nghiệp ký hợp đồng và chuyển tiền cho bên thực hiện hợp đồng; sau khi được nghiệm thu sẽ thanh toán 30% mức vốn còn lại hoặc thu hồi tạm ứng (nếu có)....
    Bên cạnh đó, Thông tư còn quy định rõ thời điểm lập dự toán nguồn kính phí hỗ trợ của Nhà nước là hàng năm vào thời điểm lập dự toán thu, chi ngân sách. Căn cứ vào chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp, Doanh nghiệp có dự án hỗ trợ kinh phí của nhà nước lập kế hoạch gửi đến Sở Kế hoạch và Đầu tư, đồng thời gửi đến Sở Tài chính. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính tổng hợp kế hoạch kinh phí hỗ trợ của các doanh nghiệp báo cáo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương…
    Trên cơ sở đó, UBND các tỉnh, thành phố trong cả nước báo cáo thực hiện các khoản kinh phí hỗ trợ theo Nghị định số 210/2013/NĐ-CP gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổng hợp báo cáo Chính phủ chậm nhất trước ngày 31/3 hằng năm.
    NPM
    Ngày 16/3, Bộ Tài chính đã có công văn gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc tăng cường công tác quản lý và bình ổn giá. Theo đó, công văn cho biết để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và hạn chế các hiện tượng lợi dụng việc tăng giá điện, giá xăng dầu để tăng giá dây chuyền, tăng giá không phù hợp với tỷ lệ tác động của giá điện, xăng dầu vào giá thành sản phẩm hàng hoá, Bộ Tài chính đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục chỉ đạo Sở Tài chính và các sở, ban ngành chức năng (Công Thương, Giáo dục, Y tế, Quản lý thị trường, Thuế, Công an, Hải quan...) tăng cường công tác quản lý và bình ổn giá trên địa bàn, cụ thể như sau:
     

    Ảnh minh họa: Nguồn Internet

    Thứ nhất, thường xuyên theo dõi, nắm tình hình diễn biến giá cả thị trường, trước hết là các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, sữa,  gas, cước vận tải… và kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có biện pháp thích hợp để bình ổn giá theo quy định của pháp luật.

    Thứ hai, chỉ đạo các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên địa bàn, nhất là các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ vận tải và các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh có sử dụng nhiều năng lượng điện, nhiên liệu xăng dầu phấn đấu cải tiến công nghệ, áp dụng mọi biện pháp tiết kiệm nhiên liệu, nâng cao năng suất lao động... để giảm giá thành, hạn chế tác động của việc điều chỉnh giá điện, xăng dầu đến giá bán sản phẩm.

    Thứ ba, giám sát chặt chẽ việc kê khai giá những mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá; rà soát định mức và đơn giá các yếu tố hình thành giá, đánh giá tình hình thị trường và tác động của tăng giá điện, xăng dầu đến giá thành và giá bán sản phẩm đầu ra, dừng các trường hợp kê khai tăng giá bất hợp lý không do tác động trực tiếp hoặc tăng giá cao hơn tỷ lệ tác động của việc điều chỉnh giá điện, xăng dầu vừa qua; kiểm soát chặt chẽ phương án giá hàng hoá dịch vụ thuộc danh mục Nhà nước định giá; sản phẩm, dịch vụ chi từ nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo yêu cầu tiết kiệm, hiệu quả và không vượt dự toán đã được giao.

    Thứ tư, tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên địa bàn, trước hết là đối với những mặt hàng thiết yếu như cước vận tải, sữa, thuốc chữa bệnh, gas…; xử lý nghiêm các trường hợp tự ý tăng giá đối với mặt hàng không chịu tác động trực tiếp của việc điều chỉnh giá điện, giá xăng dầu hoặc tăng giá cao hơn tỷ lệ tác động của việc điều chỉnh giá điện, giá xăng dầu và các trường hợp vi phạm quy định hiện hành về quản lý giá, quản lý thị trường khác theo quy định tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, phí, lệ phí, hóa đơn và quy định của pháp luật có liên quan.

    NA

    BỘ TÀI CHÍNH
    TỔNG CỤC HẢI QUAN
    -------

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
    ---------------

    Số: 2008/TCHQ-TXNK
    V/v điều chỉnh số liệu trên hệ thống kế toán thuế tập trung

    Hà Nội, ngày 12 tháng 03 năm 2015

     

    Kính gửi: Cục Hải quan TP Hải Phòng.

    Trả lời công văn số 1657/HQHP-TVQT ngày 05/3/2015 của Cục Hải quan TP Hải Phòng về vướng mắc điều chỉnh số liệu kế toán trên hệ thống kế toán thuế tập trung, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

    Tổng cục Hải quan sẽ mở khóa sổ kế toán tháng 12/2014 của Phòng Tài vụ Quản trị, Cục Hải quan TP Hải Phòng để điều chỉnh số liệu kế toán tháng 12/2014 tại phần mềm kế toán thuế tập trung tháng 12/2014, cụ thể:

    - Phải lập chứng từ điều chỉnh để thực hiện việc điều chỉnh số liệu của các tờ khai trên. Không xóa, sửa chữa hoặc xử lý lại số liệu đã cập nhật trước đó. Chứng từ điều chỉnh sẽ được cập nhật vào ngày 31/12/2014.

    - Việc mở khóa sổ kế toán tại phần mềm kế toán thuế tập trung để đơn vị điều chỉnh số liệu được thực hiện trong thời gian từ 17h00 phút ngày 19/3/2015 đến 08h00 phút ngày 20/3/2015.

    - Cục Hải quan TP Hải Phòng phối hợp với Cục CNTT&TK Hải quan để thực hiện, đồng thời chịu trách nhiệm về việc cập nhật đúng chứng từ điều chỉnh và số liệu điều chỉnh theo quy định.

    Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan TP Hải Phòng được biết.

     

     

    Nơi nhận:


    - Như trên;
    - PTCT Nguyễn Dương Thái (để b/c);
    - Cục CNTT&TK Hải quan (để p/h);
    - Lưu: VT, TXNK-Khánh(3b).

    TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
    KT. CỤC TRƯỞNG CỤC THUẾ XNK
    PHÓ CỤC TRƯỞNG




    Nguyễn Hải Trang

     

     

    BỘ TÀI CHÍNH
    TỔNG CỤC THUẾ
    -------

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ------------------

    Số: 837/TCT-CS
    V/v thuế GTGT

    Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2015

     

    Kính gửi: Cục Thuế thành phố Cần Thơ

    Tổng cục Thuế nhận được công văn số 270/CT-HCQTTVAN ngày 04/11/2014 của Cục Thuế thành phố Cần Thơ đề nghị hướng dẫn vướng mắc về sử dụng hóa đơn đối với hoạt động kinh doanh vàng. Về vấn đề này, căn cứ ý kiến của Ngân hàng nhà nước tại công văn số592/NHNN-QLNH ngày 27/01/2015 (đính kèm), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

    1. Về chính sách thuế và hóa đơn:

    Căn cứ Khoản 1, Điều 13 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT như sau: 1. Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% áp dụng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng bạc, đá quý…”.

    Căn cứ điểm 2.1 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ như sau: “Trường hợp tổ chức nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế nhưng có hoạt động kinh doanh vàng, bạc, đá quý nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì sử dụng hóa đơn bán hàng cho hoạt động kinh doanh vàng, bạc, đá quý”.

    2. Về Điều kiện hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ:

    Tại Điều 10, Điều 11 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính phủ quy định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng quy định:

    “- Điều 10. Quản lý hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng

    Hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng”.

    “- Điều 11. Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh, mua bán vàng miếng

    1. Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    a) Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

    b) Có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên.

    c) Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 2 (hai) năm trở lên.

    d) Có số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 (năm trăm) triệu đồng/năm trở lên trong 2 (hai) năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế).

    đ) Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 (ba) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

    2. Tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    a) Có vốn điều lệ từ 3.000 (ba nghìn) tỷ đồng trở lên.

    b) Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng.

    c) Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 (năm) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

    3. Ngân hàng Nhà nước quy định thủ tục và hồ sơ cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng đối với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng.”

    Theo trình bày của Cục Thuế thành phố Cần Thơ: Trường hợp Công ty cổ phần Dược Hậu Giang nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, sử dụng hóa đơn GTGT có mua vàng miếng để khuyến mãi cho khách hàng. Tuy nhiên, trong giấy phép kinh doanh của Công ty cổ phần Dược Hậu Giang không có ngành nghề kinh doanh vàng mà hoạt động phát sinh bán hàng là đột xuất, không phải hoạt động kinh doanh thường xuyên nên Công ty không thể đăng ký bổ sung ngành nghề hoạt động mua bán vàng để Công ty in, phát hành hóa đơn bán hàng để sử dụng.

    Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc sử dụng vàng thì Công ty không được sử dụng vàng miếng mà chuyển qua sử dụng vàng nhẫn. Công ty phải xuất bán cho Ngân hàng để mua lại vàng nhẫn phục vụ cho hoạt động xúc tiến thương mại của Công ty.

    Căn cứ quy định và theo trình bày của Cục Thuế thành phố Cần Thơ, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau: hoạt động bán vàng miếng của Công ty cổ phần Dược Hậu Giang là đột xuất, không phải hoạt động kinh doanh thường xuyên, Công ty cổ phần Dược Hậu Giang bán vàng miếng cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp phép thì Công ty sử dụng hóa đơn GTGT cho hoạt động bán vàng miếng, trên hóa đơn GTGT dòng thuế suất không ghi và gạch chéo. Công ty cổ phần Dược Hậu Giang phải nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp đối với doanh thu bán vàng miếng nêu trên.

    Tổng cục Thuế trả lời Cục Thuế thành phố Cần Thơ được biết./.

     

     

    Nơi nhận:
    - Như trên;
    - Vụ PC-BTC;
    - Vụ PC, KK-TCT;
    - Lưu: VT, CS (2b)

    KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
    PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




    Cao Anh Tuấn

     

     

    BỘ TÀI CHÍNH
    TỔNG CỤC THUẾ
    --------

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
    ---------------

    Số: 767/TCT-CS
    V/v giới thiệu các nội dung mới của Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 về thuế GTGT, quản lý thuế và hóa đơn.

    Hà Nội, ngày 05 tháng 3 năm 2015

     

    Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Ngày 12/2/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế. Trên cơ sở quy định của Nghị định và yêu cầu quản lý, cải cách thủ tục hành chính, ngày 27/2/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 26/2015/TT-BTC hướng dẫn nội dung về thuế GTGT, quản lý thuế và hóa đơn. Tổng cục Thuế giới thiệu các nội dung mới của Thông tư số26/2015/TT-BTC và đề nghị các Cục thuế khẩn trương tuyên truyền, phổ biến, thông báo cho cán bộ thuế và người nộp thuế trên địa bàn quản lý biết. Một số nội dung mới của Thông tư số26/2015/TT-BTC như sau:

    1. Các nội dung sửa đổi, bổ sung Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính về thuế GTGT.

    a) Điều 4:

    Bổ sung vào đối tượng không chịu thuế đối với các mặt hàng sau:

    “-Phân bón là các loại phân hữu cơ và phân vô cơ như: phân lân, phân đạm (urê), phân NPK, phân đạm hỗn hợp, phân phốt phát, bồ tạt; phân vi sinh và các loại phân bón khác;

    - Thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và thức ăn cho vật nuôi khác, bao gồm các loại sản phẩm đã qua chế biến hoặc chưa qua chế biến như cám, bã, khô dầu các loại, bột cá, bột xương, bột tôm, các loại thức ăn khác dùng cho gia súc, gia cầm, thủy sản và vật nuôi khác, các chất phụ gia thức ăn chăn nuôi (như premix, hoạt chất và chất mang)theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 5/2/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi và khoản 2, khoản 3 Điều 1 Thông tư số 50/2014/TT-BNNPTNT ngày 24/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

    - Tàu đánh bắt xa bờ là tàu có công suất máy chính từ 90CV trở lên làm nghề khai thác hải sản hoặc dịch vụ hậu cần phục vụ khai thác hải sản; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ khai thác, bảo quản sản phẩm cho tàu cá có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên làm nghề khai thác hải sản hoặc dịch vụ hậu cần phục vụ khai thác hải sản;

    - Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp gồm: máy cày; máy bừa; máy phay; máy rạch hàng; máy bạt gốc; thiết bị san phẳng đồng ruộng; máy gieo hạt; máy cấy; máy trồng mía; hệ thống máy sản xuất mạ thảm; máy xới, máy vun luống, máy vãi, rắc phân, bón phân; máy, bình phun thuốc bảo vệ thực vật; máy thu hoạch lúa, ngô, mía, cà phê, bông; máy thu hoạch củ, quả, rễ; máy đốn chè, máy hái chè; máy tuốt đập lúa; máy bóc bẹ tẽ hạt ngô; máy tẽ ngô; máy đập đậu tương; máy bóc vỏ lạc; xát vỏ cà phê; máy, thiết bị sơ chế cà phê, thóc ướt; máy sấy nông sản (lúa, ngô, cà phê, tiêu, điều...), thủy sản; máy thu gom, bốc mía, lúa, rơm rạ trên đồng; máy ấp, nở trứng gia cầm; máy thu hoạch cỏ, máy đóng kiện rơm, cỏ; máy vắt sữa và các loại máy chuyên dùng khác.”

    Trước đây: áp dụng thuế suất 5% và 10% (tàu đánh bắt xa bờ).

    + Bổ sung hướng dẫn trường hợp bên đi vay khi thực hiện thủ tục bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật cho ngân hàng thì không phải xuất hóa đơn GTGT.

    Trước đây: chưa hướng dẫn cụ thể.

    b) Điều 7: Bổ sung điểm a.8, a.9 vào khoản 10 về giá tính thuế đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, cụ thể:

    a.8) Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá ghi trong hợp đồng góp vốn. Trường hợp giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất nhận góp vốn thì chỉ được trừ giá đất theo giá chuyển nhượng .

    a.9)Trường hợp cơ sở kinh doanh bất động sản ký hợp đồng với hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp để hoán đổi đất nông nghiệp thành đất ở, việc hoán đổi này phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai thì khi giao đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, giá tính thuế GTGT là giá chuyển nhượng trừ (-) giá đất được trừ theo quy định. Giá chuyển nhượng là giá đền bù tương ứng với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi theo phương án do cơ quan chức năng phê duyệt.”

    Trước đây: chưa hướng dẫn cụ thể.

    c) Điều 9: Bổ sung hướng dẫn không áp dụng mức thuế suất 0% đối với thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất khẩu.

    Thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất khẩu thì khi xuất khẩu không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

    d) Điều 10: Bổ sung hướng dẫn vật tư hóa chất xét nghiệm, diệt khuẩn dùng trong y tế áp dụng thuế suất 5% “theo xác nhận của Bộ Y tế.”

    Trước đây: chưa hướng dẫn có xác nhận của Bộ Y tế.

    đ) Điều 14:

    Bổ sung doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT vào công thức tính phân bổ để xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, cụ thể:

    “…Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm cả doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế không hạch toán riêng được”.

    + Bổ sung hướng dẫn về khấu trừ thuế GTGT đối với các nhóm hàng hóa chuyển sang đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:

    14a. Số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định phục vụ cho sản xuất:phân bón, máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, tàu đánh bắt xa bờ, thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản và thức ăn cho vật nuôi khác tiêu thụ trong nước không được kê khai, khấu trừ mà tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định mua vào thể hiện trên hóa đơn giá trị gia tăng, chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu phát sinh trước ngày 01 tháng 01 tháng 2015 đáp ứng điều kiện khấu trừ, hoàn thuế và thuộc diện hoàn thuế theo quy định tại Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 và Thông tư này.”

    e) Điều 15:

    + Bổ sung hướng dẫn không cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    Trước đây: chưa hướng dẫn cụ thể.

    + Bổ sung hướng dẫn về xác định nhà cung cấp trong trường hợp sau:

    “Trường hợp người nộp thuế là cơ sở kinh doanh có các cửa hàng là các đơn vị phụ thuộc sử dụng chung mã số thuế và mẫu hóa đơn của cơ sở kinh doanh, trên hoá đơn có tiêu thức “Cửa hàng số” để phân biệt các cửa hàng của cơ sở kinh doanh và có đóng dấu treo của từng cửa hàng thì mỗi cửa hàng là một nhà cung cấp.”

    g) Điều 16: Bổ sung hướng dẫn trong trường hợp phía nước ngoài nộp tiền vào tài khoản vãng lai để thanh toán cho cơ sở kinh doanh của Việt Nam như sau:

    “b.7) …

    Cơ quan thuế khi kiểm tra việc khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu thanh toán qua tài khoản vãng lai, cần phối hợp với tổ chức tín dụng nơi người mua phía nước ngoài mở tài khoản để đảm bảo việc thanh toán, chuyển tiền thực hiện đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật. Người nhập cảnh mang tiền qua biên giới phải kê khai rõ số tiền mang theo là tiền thanh toán cụ thể đối với từng hợp đồng mua bán hàng hóa và tờ khai xuất khẩu hàng hóa; đồng thời xuất trình hợp đồng mua bán hàng hóa, tờ khai xuất khẩu để công chức hải quan kiểm tra, đối chiếu. Trường hợp người nhập cảnh không phải là đại diện doanh nghiệp nước ngoài trực tiếp ký hợp đồng mua bán với doanh nghiệp Việt Nam thì phải có giấy ủy quyền (bản dịch tiếng Việt hoặc tiếng Anh, cùng với bản chính bằng tiếng của nước có đường biên giới cửa khẩu tiếp giáp) của tổ chức, cá nhân nước ngoài đã ký hợp đồng mua bán nêu trên. Giấy ủy quyền này chỉ áp dụng cho một lần mang tiền vào Việt Nam và phải ghi rõ số lượng tiền mang vào theo hợp đồng mua bán cụ thể.

    h) Điều 18:

    Hướng dẫn rõ việc hoàn thuế GTGT của cơ sở kinh doanh đang hoạt động có dự án đầu tư cùng tỉnh, thành phố.

    Hướng dẫn rõ cách xác định thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được hoàn thuế GTGT đối với trường hợp CSKD vừa có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu vừa có hàng hóa, dịch vụ bán ra trong nước.

    Bổ sung hướng dẫn chưa phải điều chỉnh lại số thuế GTGT đã kê khai, đã khấu trừ hoặc hoàn thuế trong trường hợp CSKD đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động chưa phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu ra của hoạt động kinh doanh chính theo dự án đầu tư, cụ thể:

    “5. ...Cơ sở kinh doanh trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động chưa phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu ra của hoạt động kinh doanh chính theo dự án đầu tư thì chưa phải điều chỉnh lại số thuế giá trị gia tăng đã kê khai, khấu trừ hoặc đã được hoàn. Cơ sở kinh doanh phải thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định.

    Trường hợp cơ sở kinh doanh sau khi làm đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản thì đối với số thuế GTGT đã được hoàn thực hiện theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản và quản lý thuế; đối với số thuế GTGT chưa được hoàn thì không được giải quyết hoàn thuế.

    Trường hợp cơ sở kinh doanh chấm dứt hoạt động và không phát sinh thuế GTGT đầu ra của hoạt động kinh doanh chính thì phải nộp lại số thuế đã được hoàn vào ngân sách nhà nước. Trường hợp có phát sinh bán tài sản chịu thuế GTGT thì không phải điều chỉnh lại số thuế GTGT đầu vào tương ứng của tài sản bán ra.”

    2. Các nội dung sửa đổi, bổ sung Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 về quản lý thuế.

    a) Điều 11:

    + Hướng dẫn nộp thuế theo tỷ lệ đối với trường hợp xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh mà giá trị công trình xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh bao gồm cả thuế GTGTtừ 1 tỷ đồng trở lên.

    Trước đây: Không hướng dẫn về giá trị công trình xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnhđể kê khai thuế tại nơi có công trình.

    Bổ sung hướng dẫn nộp thuế đối với NNT có công trình liên quan đến nhiều địa phương, cụ thể:

    Trường hợp người nộp thuế có công trình xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh liên quan tới nhiều địa phương như: xây dựng đường giao thông, đường dây tải điện, đường ống dẫn nước, dẫn dầu, dẫn khí,..., không xác định được doanh thu của công trình ở từng địa phương cấp tỉnh thì người nộp thuế khai thuế giá trị gia tăng của doanh thu xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh chung với hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tại trụ sở chính và nộp thuế GTGT cho các tỉnh nơi có công trình đi qua. Số thuế GTGT phải nộp cho các tỉnh được tính theo tỷ lệ (%) giá trị đầu tư của công trình tại từng tỉnh do người nộp thuế tự xác định nhân (x) với 2% doanh thu chưa có thuế GTGT của hoạt động xây dựng công trình.

    Số thuế GTGT đã nộp (theo chứng từ nộp thuế) của hoạt động xây dựng công trình liên tỉnh được trừ (-) vào số thuế phải nộp trên Tờ khai thuế GTGT (mẫu số 01/GTGT) của người nộp thuế tại trụ sở chính.

    Người nộp thuế lập Bảng phân bổ số thuế GTGT phải nộp cho các địa phương nơi có công trình xây dựng, lắp đặt liên tỉnh (mẫu số 01-7/GTGTban hành kèm theo Thông tư này) và sao gửi kèm theo Tờ khai thuế GTGT cho Cục Thuế nơi được hưởng nguồn thu thuế GTGT.”

    + Bãi bỏ Bảng kê HHDV mua vào, bán ra trong Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng và thuế TTĐB.

    b) Điều 27: Hướng dẫn về đồng tiền nộp thuế và xác định doanh thu, chi phí, giá tính thuế và các khoản nộp NSNN, cụ thể:

    ...

    2. Trường hợp người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp bằng ngoại tệ nhưng được cơ quan có thẩm quyền cho phép nộp thuế bằng đồng Việt Nam thì người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế căn cứ số tiền Việt Nam Đồng trên chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước và tỷ giá quy định tại Khoản này để quy đổi thành số tiền bằng ngoại tệ để thanh toán cho khoản nghĩa vụ phải nộp bằng ngoại tệ, cụ thể như sau:

    Trường hợp nộp tiền tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước thì áp dụng tỷ giá mua vào của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng nơi người nộp thuế mở tài khoản tại thời điểm người nộp thuế nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

    Ví dụ: Công ty X là người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp bằng ngoại tệ nhưng được cơ quan có thẩm quyền cho phép nộp thuế bằng đồng Việt Nam. Công ty X mở tài khoản tại 3 ngân hàng là Ngân hàng A, Ngân hàng B và Ngân hàng C. Ngày 21/3/2015, tỷ giá mua vào đồng đô la Mỹ tại Ngân hàng A là 21.300 VND/USD, tại Ngân hàng B là 21.310 VND/USD, tại Ngân hàng C là 21.305 VND/USD. Ngày 21/3/2015, Công ty X nộp thuế bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng D hoặc Kho bạc Nhà nước quận E thì Công ty X được áp dụng tỷ giá mua vào của một trong ba ngân hàng A, B, C. Nếu Công ty X nộp thuế bằng đồng Việt Nam tại Ngân hàng A thì áp dụng tỉ giá là 21.300 VND/USD.

    3. Trường hợp phát sinh doanh thu, chi phí, giá tính thuế bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 hướng dẫn về chế độ kế toán doanh nghiệp như sau:

    - Tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán doanh thu là tỷ giá mua vào của Ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản.

    - Tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán chi phí là tỷ giá bán ra của Ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản tại thời điểm phát sinh giao dịch thanh toán ngoại tệ.

    - Các trường hợp cụ thể khác thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014.”

    c) Bãi bỏ quy định về gia hạn nộp thuế đối với trường hợp người nộp thuế chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được ghi trong dự toán NSNN.

    d) Về tỷ lệ tính tiền chậm nộp:

    - Từ 01/01/2015, tiền chậm nộp được tính theo mức 0,05% số tiền thuế chậm nộp tính trên mỗi ngày chậm nộp.

    - Đối với các khoản tiền thuế khai thiếu của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/01/2015 nhưng sau ngày 01/01/2015, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc người nộp thuế tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu cho toàn bộ thời gian chậm nộp.

    đ) Về trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp

    Người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế.

    e) Về miễn tiền chậm nộp

    - Về xác định số tiền chậm nộp được miễn: số tiền chậm nộp được miễn tính trên số tiền thuế còn nợ tại thời điểm xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh… và số tiền chậm nộp được miễn này không vượt quá giá trị bị thiệt hại.

    - Về hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp: trường hợp NNT bị thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp phải có biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại về tài sản của cơ quan có thẩm quyền như Hội đồng định giá do Sở Tài chính thành lập, hoặc các công ty định giá chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ định giá theo hợp đồng, hoặc Trung tâm định giá của Sở Tài chính.

    - Về trình tự giải quyết hồ sơ miễn tiền chậm nộp: Trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày xảy ra gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo hoặc trường hợp bất khả kháng khác người nộp thuế phải lập hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

    g) Về hồ sơ áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với hãng vận tải nước ngoài.

    g.1) Sửa đổi các các nội dung sau:

    Khai thuế đối với hãng vận tải nước ngoài sửa đổi từ khai theo quý sang thành tạm nộp theo quý và quyết toán theo năm.

    - Về Hồ sơ Thông báo miễn, giảm thuế theo Hiệp định: Bãi bỏ toàn bộ quy định về Tài liệu chứng minh hãng vận tải nước ngoài khai thác tàu theo từng hình thức (Chứng từ điều hành tàu, hợp đồng vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường biển, và Chứng từ vận chuyển).

    Và thay thế bằng hướng dẫn sau:

    Đại lý của hãng vận tải nước ngoài tại Việt Nam hoặc Văn phòng Đại diện của hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm lưu trữ các hồ sơ, tài liệu, chứng từ theo quy định của Luật kế toán, Nghị định hướng dẫn Luật kế toán và Bộ Luật Hàng hải và xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu.

    Trường hợp các hãng vận tải nước ngoài có các đại lý tại nhiều địa phương ở Việt Nam hoặc các đại lý của hãng vận tải nước ngoài có các chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại nhiều địa phương ở Việt Nam thì chỉ phải nộp bản gốc (hoặc bản chụp đã được chứng thực) Giấy chứng nhận cư trú đã hợp pháp hóa lãnh sự cho Cục Thuế địa phương nơi đại lý của hãng vận tải nước ngoài có trụ sở chính và gửi bản chụp tài liệu này cho các Cục Thuế địa phương nơi hãng vận tải nước ngoài có chi nhánh và ghi rõ nơi đã nộp bản gốc. Hãng vận tải nước ngoài hoặc đại lý của hãng vận tải nước ngoài không phải nộp Giấy chứng nhận đăng ký thuế (hoặc Giấy đăng ký kinh doanh) cho cơ quan thuế.

    g.2) Sửa đổi về hồ sơ hoàn thuế theo hướng hồ sơ hoàn thuế của các đối tượng đề nghị áp dụng Hiệp định không bao gồm Chứng từ nộp thuế.

    Riêng đối với các hãng vận tải nước ngoài, hồ sơ hoàn thuế không bao gồm chứng từ chứng minh cho việc doanh nghiệp khai thác tàu, chứng từ nộp thuế và xác nhận của tổ chức, cá nhân Việt Nam ký kết hợp đồng về thời gian và tình hình hoạt động thực tế theo hợp đồng.

    g.3) Bổ sung về việccác hồ sơ hoàn thuế của hãng vận tải nước ngoài theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau và việc kiểm tra sau hoàn thuế phải được thực hiện trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế.

    3. Các nội dung sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

    a) Điều 4: Bỏ hướng dẫn cơ sở kinh doanh phải đăng ký sử dụng dấu ngăn cách và chữ viết không dấu trên hóa đơn.

    Trước đây: CSKD phải có văn bản đăng ký với cơ quan thuế.

    b) Điều 6, Điều 8: Bổ sung hướng dẫn sau 5 ngày làm việc cơ quan thuế quản lý trực tiếp không có ý kiến bằng văn bản thì tổ chức được sử dụng hóa đơn tự in/đặt in.

    c) Điều 9: Bỏ quy định cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác định số lượng hóa đơn được thông báo phát hành để sử dụng từ 3 tháng đến 6 tháng tại Thông báo phát hành hóa đơn của doanh nghiệp.

    Trước đây: Cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác định số lượng hóa đơn được thông báo phát hành để sử dụng từ 3 tháng đến 6 tháng tại Thông báo phát hành hóa đơn của doanh nghiệp.

    d) Điều 14: Bổ sung hướng dẫn về việc kết nối với cơ quan thuế để gửi thông tin cho cơ quan thuế theo lộ trình triển khai của cơ quan thuế đối với NNT kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, siêu thị … có sử dụng hệ thống máy tính tiền, hệ thống cài đặt phần mềm bán hàng để thanh toán.

    Trước đây: chưa có quy định.

    đ) Điều 16 và Phụ lục 4: Hướng dẫn cụ thể trường hợp không xuất hóa đơn đối với hàng hóa tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh.

    Trước đây: Chưa hướng dẫn cụ thể trường hợp này.

    e) Điều 16: Bổ sung hướng dẫn đối với trường hợp hóa đơn đã lập có sai sót về tên, địa chỉ người mua nhưng ghi đúng mã số thuế người mua thì các bên lập biên bản điều chỉnh và không phải lập hóa đơn điều chỉnh. Các trường hợp hóa đơn đã lập có sai sót khác thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 20 Thông tư số 39/2014/TT-BTC.

    4. Hiệu lực thi hành:

    a) Các nội dung trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật số 71/2014/QH13 về sửa đổi,bổ sung một số điều của các Luật về thuế và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế có hiệu lực thi hành.

    b) Một số lưu ý về hiệu lực thi hành như sau:

    - Đối với hợp đồng mua máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ký trước ngày có hiệu lực áp dụng của Luật số 71/2014/QH13 (các loại máy quy định tại Khoản 11 Điều 10Thông tư số 219/2013/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC) nhưng thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sau ngày Luật số 71/2014/QH13 có hiệu lực áp dụng thì các bên thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư26/2015/TT-BTC.

    - Đối với hợp đồng đóng tàu đánh bắt xa bờ được ký trước ngày 01/01/2015 theo giá đã có thuế GTGT nhưng đến thời điểm ngày 31/12/2014 chưa hoàn thành, bàn giao mà thời điểm hoàn thành, bàn giao thực tế sau ngày 01/01/2015 thì toàn bộ giá trị tàu đánh bắt xa bờ thực hiện theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư26/2015/TT-BTC.

    - Bãi bỏ các nội dung liên quan đến Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra và các nội dung quy định về tỷ giá khi xác định doanh thu, giá tính thuế tại:

    + Thông tư số 05/2012/TT-BTC ngày 05/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 và Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 08/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.

    + Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng

    + Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ.

    + Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011, Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế.

    - Đối với các hồ sơ Thông báo miễn, giảm thuế theo Hiệp định đã được nộp cho cơ quan thuế trước Thông tư này có hiệu lực thi hành, đại lý của hãng vận tải nước ngoài tại Việt Nam hoặc văn phòng đại diện của hãng vận tải nước ngoài thực hiện lưu trữ các hồ sơ, tài liệu, chứng từ theo quy định tại Thông tư 26/2015/TT-BTC.

    Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các Cục thuế kịp thời tổng hợp,phản ánh về Tổng cục Thuế để được nghiên cứu giải quyết./.

     

     Nơi nhận:


    - Như trên;
    - Lãnh đạo Tổng cục (để b/c);
    - Các Vụ, đơn vị thuộc TCT;
    - Lưu: VT, CS (3).

    KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
    PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG





    Cao Anh Tuấn

     

     

    BỘ TÀI CHÍNH
    TỔNG CỤC THUẾ
    -------

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
    ---------------

    Số: 728/TCT-CS
    V/v hóa đơn đặt in

    Hà Nội, ngày 3 tháng 03 năm 2015

     

    Kính gửi:

    - Cục Thuế tỉnh Bình Dương;
    - Công ty cổ phần Giấy An Bình.
    (Địa chỉ: 27/5A Đường Kha Vạn Cân, P. An Bình, TX Dĩ An, tỉnh Bình Dương)
    - Công ty xăng dầu khu vực II NHH MTV.
    (Địa chỉ: 15 Lê Duẩn, P. Bến Nghé, Quận 1, TP. HCM)

     Tổng cục Thuế nhận được công văn số 3301/PLXDKV2-KTTC ngày 15/12/2014 của Công ty xăng dầu khu vực II TNHH Một thành viên về việc sử dụng hoá đơn và công văn số 01/1214/AB ngày 24/12/2014 của Công ty cổ phần Giấy An Bình về việc đơn vị tiền tệ của tổng cộng tiền thanh toán. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

    Tại điểm e, khoản 2 Điều 16 Thông tư sô 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định sô 51/2010/NĐ-CP ngày 14  tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:

    "e) Đồng tiền ghi trên hoá đơn

    Đồng tiền ghi trên hoá đơn là đồng Việt Nam.

    Trường hợp người bán được bán hàng thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật, tổng số tiền thanh toán được ghi bằng nguyên tệ, phần chữ ghi bằng tiếng Việt

    Ví dụ: 10.000 USD - Mười nghìn đô la Mỹ.

    Người bán đồng thời ghi trên hoá đơn tỷ giá ngoại tệ với đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập hoá đơn.

    Trường hợp ngoại tệ thu về là loại không có tỷ giá với đồng Việt Nam thì ghi tỷ giá chéo với một loại ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá.

    Hướng dẫn lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ trong một số trường hợp thực hiện theo Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này."

    - Tại khoản 4, Điều 4 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ quy định:

    "4. Hoá đơn được thể hiện bằng chữ Việt. ."

    Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp hoá đơn GTGT giao cho người mua bằng phần mềm quản lý hệ thống, các chỉ tiêu trên hoá đơn.thể hiện đầy đủ nội dung bán hàng hoá riêng nội dung tại tiêu thức "Cộng tiền hàng" "tiền thuế GTGT:" "Tiền phí khác." "Tổng số tiền thanh toán:" trên hoá đơn giá trị gia tăng không ghi đơn vị tiền đồng ghi sau số tiền ghi bằng số (Ví dụ: trường hợp Công ty xăng dầu Khu vực II TNHH MTV lập hoá đơn cho người mua ghi "Tổng cộng tiền thanh toán: 112.437.600" trên hoá đơn GTGT, Công Giấy An Bình khi lập hoá đơn giao cho người mua "Tổng cộng tiền. thanh toán 209.865.700" trên hoá đơn GTGT) nhưng tại nội dung "Tổng số tiền thanh toán bằng chữ" có ghi đơn vị tính tiền đồng thì hoá.đơn được chấp thuận. Khách hàng được căn cứ hoá đơn nêu trên để kê khai khấu trừ thuế và tính chi phí theo quy định

    Tổng cục Thuế có ý kiến để Cục Thuế và các Công ty được biết.

     

     Nơi nhận:
    - Như trên
    - Phó TCT Cao Anh Tuấn (để b/cáo);
    - Vụ PC (BTC);
    - Vụ PC (TCT);
    - Lưu: VT, CS (4b).

    TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
    KT. VỤ TRƯỞNG VỤ CHÍNH SÁCH
    PHÓ VỤ TRƯỞNG


    Nguyễn Hữu Tân

     

    Thông tư 26/2015/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP, sửa đổi Thông tư 39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ do Bộ Tài chính ban hành

     

    BỘ TÀI CHÍNH
    -------

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
    ---------------

    Số: 26/2015/TT-BTC

    Hà Nội, ngày 27 tháng 02 năm 2015

    THÔNG TƯ

    HƯỚNG DẪN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ12/2015/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 2 NĂM 2015 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA CÁC LUẬT VỀ THUẾ VÀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA CÁC NGHỊ ĐỊNH VỀ THUẾ VÀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA THÔNG TƯ SỐ 39/2014/TT-BTC NGÀY 31/3/2014 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ HÓA ĐƠN BÁN HÀNG HÓA, CUNG ỨNG DỊCH VỤ

    Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và Luật số 21/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

    Căn cứ Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 và Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng;

    Căn cứ Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế;

    Căn cứ Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/1/2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

    Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

    Căn cứ Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng;

    Căn cứ Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế;

    Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23/12/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

    Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế,

    Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện về thuế giá trị gia tăng (GTGT), quản lý thuế và hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ như sau:

    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính) như sau:

    1. Sửa đổi khoản 1 Điều 4 như sau:

    “1. Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.

    Các sản phẩm mới qua sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.

    Ví dụ 2: Công ty A ký hợp đồng nuôi heo với Công ty B theo hình thức Công ty B giao cho Công ty A con giống, thức ăn, thuốc thú y, Công ty A giao, bán cho Công ty B sản phẩm heo thì tiền công nuôi heo nhận từ Công ty B và sản phẩm heo Công ty A giao, bán cho Công ty B thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

    Sản phẩm heo Công ty B nhận lại từ Công ty A: nếu Công ty B bán ra heo (nguyên con) hoặc thịt heo tươi sống thì sản phẩm bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, nếu Công ty B đưa heo vào chế biến thành sản phẩm như xúc xích, thịt hun khói, giò hoặc thành các sản phẩm chế biến khác thì sản phẩm bán ra thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo quy định.”

    2. Bổ sung khoản 3a vào Điều 4 như sau:

    “3a. Phân bón là các loại phân hữu cơ và phân vô cơ như: phân lân, phân đạm (urê), phân NPK, phân đạm hỗn hợp, phân phốt phát, bồ tạt; phân vi sinh và các loại phân bón khác;

    Thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và thức ăn cho vật nuôi khác, bao gồm các loại sản phẩm đã qua chế biến hoặc chưa qua chế biến như cám, bã, khô dầu các loại, bột cá, bột xương, bột tôm, các loại thức ăn khác dùng cho gia súc, gia cầm, thủy sản và vật nuôi khác, các chất phụ gia thức ăn chăn nuôi (như premix, hoạt chất và chất mang) theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 5/2/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi và khoản 2, khoản 3 Điều 1 Thông tư số 50/2014/TT-BNNPTNT ngày 24/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

    Tàu đánh bắt xa bờ là tàu có công suất máy chính từ 90CV trở lên làm nghề khai thác hải sản hoặc dịch vụ hậu cần phục vụ khai thác hải sản; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ khai thác, bảo quản sản phẩm cho tàu cá có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên làm nghề khai thác hải sản hoặc dịch vụ hậu cần phục vụ khai thác hải sản;

    Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp gồm: máy cày; máy bừa; máy phay; máy rạch hàng; máy bạt gốc; thiết bị san phẳng đồng ruộng; máy gieo hạt; máy cấy; máy trồng mía; hệ thống máy sản xuất mạ thảm; máy xới, máy vun luống, máy vãi, rắc phân, bón phân; máy, bình phun thuốc bảo vệ thực vật; máy thu hoạch lúa, ngô, mía, cà phê, bông; máy thu hoạch củ, quả, rễ; máy đốn chè, máy hái chè; máy tuốt đập lúa; máy bóc bẹ tẽ hạt ngô; máy tẽ ngô; máy đập đậu tương; máy bóc vỏ lạc; xát vỏ cà phê; máy, thiết bị sơ chế cà phê, thóc ướt; máy sấy nông sản (lúa, ngô, cà phê, tiêu, điều...), thủy sản; máy thu gom, bốc mía, lúa, rơm rạ trên đồng; máy ấp, nở trứng gia cầm; máy thu hoạch cỏ, máy đóng kiện rơm, cỏ; máy vắt sữa và các loại máy chuyên dùng khác.”

    3. Sửa đổi, bổ sung điểm a Khoản 8 Điều 4 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 8 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính) như sau:

    “a) Dịch vụ cấp tín dụng gồm các hình thức:

    - Cho vay;

    - Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác;

    - Bảo lãnh ngân hàng;

    - Cho thuê tài chính;

    - Phát hành thẻ tín dụng.

    Trường hợp tổ chức tín dụng thu các loại phí liên quan đến phát hành thẻ tín dụng thì các khoản phí thu từ khách hàng thuộc quy trình dịch vụ cấp tín dụng (phí phát hành thẻ) theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng như phí trả nợ trước hạn, phạt chậm trả nợ, cơ cấu lại nợ, quản lý khoản vay và các khoản phí khác thuộc quy trình cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT).

     Các khoản phí giao dịch thẻ thông thường không thuộc quy trình cấp tín dụng như phí cấp lại mã pin cho thẻ tín dụng, phí cung cấp bản sao hoá đơn giao dịch, phí đòi bồi hoàn khi sử dụng thẻ, phí thông báo mất cắp, thất lạc thẻ tín dụng, phí huỷ thẻ tín dụng, phí chuyển đổi loại thẻ tín dụng và các khoản phí khác thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.

    - Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;

    - Bán tài sản bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng hoặc do cơ quan thi hành án hoặc bên đi vay vốn tự bán tài sản bảo đảm theo ủy quyền của bên cho vay để trả nợ khoản vay có bảo đảm, cụ thể:

    + Tài sản bảo đảm tiền vay được bán là tài sản thuộc giao dịch bảo đảm đã được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm.

    + Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.

    Trường hợp hết thời gian trả nợ, người có tài sản bảo đảm không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho tổ chức tín dụng để tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật, các bên thực hiện thủ tục bàn giao tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật thì không phải xuất hóa đơn GTGT.

    Trường hợp tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tổ chức tín dụng thực hiện hạch toán tăng giá trị tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh theo quy định. Khi tổ chức tín dụng bán tài sản phục vụ hoạt động kinh doanh nếu tài sản thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì tổ chức tín dụng phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định.

    Ví dụ 3: Tháng 3/2015, Doanh nghiệp A là cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thế chấp dây chuyền, máy móc thiết bị để vay vốn tại Ngân hàng B, thời gian vay là 1 năm (hạn trả nợ là ngày 31/3/2016). Đến ngày 31/3/2016, Doanh nghiệp A không có khả năng trả nợ và phải bàn giao tài sản cho Ngân hàng B thì khi bàn giao tài sản, Doanh nghiệp A không phải lập hóa đơn. Ngân hàng B bán tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ thì tài sản bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

    Ví dụ 3a: Tháng 12/2014, Doanh nghiệp B là cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thế chấp nhà xưởng trên đất và quyền sử dụng đất để vay vốn tại Ngân hàng thương mại C, thời gian vay là 1 năm, hạn trả nợ là ngày 15/12/2016, Ngân hàng thương mại C và Doanh nghiệp B có đăng ký giao dịch bảo đảm (thế chấp nhà xưởng trên đất và quyền sử dụng đất) với cơ quan có thẩm quyền. Đến ngày 15/12/2016, Doanh nghiệp B không có khả năng trả nợ và Ngân hàng thương mại C có văn bản đồng ý giải chấp để Doanh nghiệp B được bán nhà xưởng để trả nợ ngân hàng, tháng 1/2017, doanh nghiệp B bán nhà xưởng để trả nợ Ngân hàng thì nhà xưởng bán thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

    - Dịch vụ cung cấp thông tin tín dụng do đơn vị, tổ chức thuộc Ngân hàng nhà nước cung cấp cho các tổ chức tín dụng để sử dụng trong hoạt động cấp tín dụng theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước.

    Ví dụ 4: Tổ chức X là đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin tín dụng. Năm 2014, tổ chức X ký hợp đồng cung cấp thông tin tín dụng cho một số ngân hàng thương mại phục vụ hoạt động cấp tín dụng và phục vụ hoạt động khác của ngân hàng thương mại thì doanh thu từ dịch vụ cung cấp thông tin tín dụng phục vụ hoạt động cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, doanh thu từ dịch vụ cung cấp thông tin tín dụng phục vụ hoạt động khác của ngân hàng thương mại không theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 10%.

    - Hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật.”

    4. Bổ sung điểm a.8, a.9 vào khoản 10 Điều 7 như sau:

    “a.8) Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng là giá ghi trong hợp đồng góp vốn. Trường hợp giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất nhận góp vốn thì chỉ được trừ giá đất theo giá chuyển nhượng .

    a.9) Trường hợp cơ sở kinh doanh bất động sản ký hợp đồng với hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp để hoán đổi đất nông nghiệp thành đất ở, việc hoán đổi này phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai thì khi giao đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, giá tính thuế GTGT là giá chuyển nhượng trừ (-) giá đất được trừ theo quy định. Giá chuyển nhượng là giá đền bù tương ứng với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi theo phương án do cơ quan chức năng phê duyệt.”

    5. Sửa đổi gạch đầu dòng thứ nhất Khoản 3 Điều 9 như sau:

    “3. Các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% gồm:

    - Tái bảo hiểm ra nước ngoài; chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; chuyển nhượng vốn, cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài; dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông chiều đi ra nước ngoài (bao gồm cả dịch vụ bưu chính viễn thông cung cấp cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; cung cấp thẻ cào điện thoại di động đã có mã số, mệnh giá đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào khu phi thuế quan); sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất khẩu; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho cá nhân không đăng ký kinh doanh trong khu phi thuế quan, trừ các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

    Thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất khẩu thì khi xuất khẩu không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.”

    6. Sửa đổi khoản 2 Điều 10 như sau:

    “2. Quặng để sản xuất phân bón; thuốc phòng trừ sâu bệnh và chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng bao gồm:

    a) Quặng để sản xuất phân bón là các quặng làm nguyên liệu để sản xuất phân bón như quặng Apatít dùng để sản xuất phân lân, đất bùn làm phân vi sinh;

    b) Thuốc phòng trừ sâu bệnh bao gồm thuốc bảo vệ thực vật theo Danh mục thuốc bảo vệ thực vật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh khác;

    c) Các chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng.”

    7. Bãi bỏ khoản 3 và khoản 10 Điều 10.

    8. Sửa đổi, bổ sung Khoản 11 Điều 10 như sau:

    “11. Thiết bị, dụng cụ y tế gồm máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế như: các loại máy soi, chiếu, chụp dùng để khám, chữa bệnh; các thiết bị, dụng cụ chuyên dùng để mổ, điều trị vết thương, ô tô cứu thương; dụng cụ đo huyết áp, tim, mạch, dụng cụ truyền máu; bơm kim tiêm; dụng cụ phòng tránh thai và các dụng cụ, thiết bị chuyên dùng cho y tế khác theo xác nhận của Bộ Y tế.

    Bông, băng, gạc y tế và băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, trừ thực phẩm chức năng; vắc-xin; sinh phẩm y tế, nước cất để pha chế thuốc tiêm, dịch truyền; mũ, quần áo, khẩu trang, săng mổ, bao tay, bao chi dưới, bao giày, khăn, găng tay chuyên dùng cho y tế, túi đặt ngực và chất làm đầy da (không bao gồm mỹ phẩm); vật tư hóa chất xét nghiệm, diệt khuẩn dùng trong y tế theo xác nhận của Bộ Y tế.”

    9. Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:

    a) Sửa đổi khoản 2 Điều 14 như sau:

    “2. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ (kể cả tài sản cố định) sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm cả doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế không hạch toán riêng được.

    Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT hàng tháng/quý tạm phân bổ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định mua vào được khấu trừ trong tháng/quý, cuối năm cơ sở kinh doanh thực hiện tính phân bổ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của năm để kê khai điều chỉnh thuế GTGT đầu vào đã tạm phân bổ khấu trừ theo tháng/quý.”

    b) Bổ sung khoản 14a vào Điều 14 như sau:

    “14a. Số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định phục vụ cho sản xuất: phân bón, máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, tàu đánh bắt xa bờ, thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản và thức ăn cho vật nuôi khác tiêu thụ trong nước không được kê khai, khấu trừ mà tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định mua vào thể hiện trên hóa đơn giá trị gia tăng, chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu phát sinh trước ngày 01 tháng 01 tháng 2015 đáp ứng điều kiện khấu trừ, hoàn thuế và thuộc diện hoàn thuế theo quy định tại Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 và Thông tư này.”

    10. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính) như sau:

    “Điều 15. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

    1. Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

    2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

    3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế. Bênmua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho nhà cung cấp) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế).

    a) Các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ hai mươi triệu đồng trở lên.

    b) Hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn từ hai mươi triệu đồng trở lên theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ.

    c) Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

    Trường hợp khi thanh toán, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh thuế GTGT đã kê khai, khấu trừ).

    4. Các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm:

    a) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba (3) bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

    b) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờ người mua chi hộ.

    c) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

    d) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì cũng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

    Ví dụ 68:

    Công ty A mua hàng của Công ty B và Công ty A đang còn nợ tiền hàng của Công ty B. Tuy nhiên Công ty B đang còn nợ tiền thuế vào ngân sách nhà nước. Căn cứ Luật Quản lý thuế, cơ quan thuế thực hiện thu tiền, tài sản của Công ty B do Công ty A đang nắm giữ để thi hành quyết định hành chính thuế thì khi Công ty A chuyển tiền vào tài khoản thu ngân sách cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.

    Ví dụ 69:

    Công ty C thực hiện ký hợp đồng kinh tế với Công ty D về việc cung cấp hàng hóa và Công ty D đang còn nợ tiền hàng của Công ty C.

    Thực hiện Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc yêu cầu thu toàn bộ số tiền mà Công ty D đang còn nợ Công ty C để chuyển vào tài khoản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mở tại Kho bạc Nhà nước để giải quyết “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa Công ty C và đối tác.

    Khi Công ty D chuyển trả số tiền vào tài khoản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (việc chuyển tiền này không được quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán giữa Công ty C và Công ty D) thì trường hợp này cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.

    5. Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới hai mươi triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Nhà cung cấp là người nộp thuế có mã số thuế, trực tiếp khai và nộp thuế GTGT.

    Trường hợp người nộp thuế là cơ sở kinh doanh có các cửa hàng là các đơn vị phụ thuộc sử dụng chung mã số thuế và mẫu hóa đơn của cơ sở kinh doanh, trên hoá đơn có tiêu thức “Cửa hàng số” để phân biệt các cửa hàng của cơ sở kinh doanh và có đóng dấu treo của từng cửa hàng thì mỗi cửa hàng là một nhà cung cấp.”

    11. Sửa đổi, bổ sung điểm b.7 Khoản 3 Điều 16 như sau:

    “b.7) Trường hợp phía nước ngoài (trừ trường hợp phía nước ngoài là cá nhân) thanh toán từ tài khoản tiền gửi vãng lai của phía nước ngoài mở tại các tổ chức tín dụng tại Việt Nam thì việc thanh toán này phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có). Chứng từ thanh toán là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản vãng lai của người mua phía nước ngoài đã ký hợp đồng.

    Trường hợp xuất khẩu cho người mua phía nước ngoài là doanh nghiệp tư nhân và việc thanh toán thông qua tài khoản vãng lai của chủ doanh nghiệp tư nhân mở tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam và được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng-nếu có) thì được xác định là thanh toán qua ngân hàng.

    Cơ quan thuế khi kiểm tra việc khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu thanh toán qua tài khoản vãng lai, cần phối hợp với tổ chức tín dụng nơi người mua phía nước ngoài mở tài khoản để đảm bảo việc thanh toán, chuyển tiền thực hiện đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật. Người nhập cảnh mang tiền qua biên giới phải kê khai rõ số tiền mang theo là tiền thanh toán cụ thể đối với từng hợp đồng mua bán hàng hóa và tờ khai xuất khẩu hàng hóa; đồng thời xuất trình hợp đồng mua bán hàng hóa, tờ khai xuất khẩu để công chức hải quan kiểm tra, đối chiếu. Trường hợp người nhập cảnh không phải là đại diện doanh nghiệp nước ngoài trực tiếp ký hợp đồng mua bán với doanh nghiệp Việt Nam thì phải có giấy ủy quyền (bản dịch tiếng Việt hoặc tiếng Anh, cùng với bản chính bằng tiếng của nước có đường biên giới cửa khẩu tiếp giáp) của tổ chức, cá nhân nước ngoài đã ký hợp đồng mua bán nêu trên. Giấy ủy quyền này chỉ áp dụng cho một lần mang tiền vào Việt Nam và phải ghi rõ số lượng tiền mang vào theo hợp đồng mua bán cụ thể.”

    12. Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung Khoản 3 như sau:

    “3. Hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư

    a) Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.

    Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư.

    Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mà chưa được khấu trừ hết nhỏ hơn 300 triệu đồng thì kết chuyển vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ kê khai tiếp theo.

    Trường hợp trong kỳ kê khai, cơ sở kinh doanh có số thuế GTGT đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh chưa được khấu trừ hết và số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 3 Điều này theo quy định.

    Ví dụ 74: Công ty A có trụ sở chính tại Hà Nội, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư tại Hà Nội, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, Công ty A thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 900 triệu đồng. Công ty A phải bù trừ 500 triệu đồng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (900 triệu đồng), vậy số thuế GTGT mà Công ty A còn phải nộp trong kỳ tính thuế tháng 4/2014 là 400 triệu đồng.

    Ví dụ 75: Công ty B có trụ sở chính tại Hải Phòng, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư tại Hải Phòng, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, Công ty B thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 200 triệu đồng. Công ty B phải bù trừ 200 triệu đồng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (200 triệu đồng). Vậy, kỳ tính thuế tháng 4/2014 Công ty B có số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết là 300 triệu đồng. Công ty B được xét hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư.

    Ví dụ 76: Công ty C có trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, Công ty C thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 300 triệu đồng. Công ty C phải bù trừ 300 triệu đồng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (300 triệu đồng). Vậy, kỳ tính thuế tháng 4/2014 Công ty C có số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết là 200 triệu đồng. Công ty C không thuộc trường hợp được xét hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư, Công ty C thực hiện kết chuyển 200 triệu đồng vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ kê khai tháng 5/2014.

    Ví dụ 77: Công ty D có trụ sở chính tại thành phố Đà Nẵng, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư tại thành phố Đà Nẵng, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, Công ty D thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT chưa được khấu trừ hết của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 100 triệu đồng. Vậy, tại kỳ tính thuế tháng 4/2014, số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư (500 triệu đồng) thuộc trường hợp được xét hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư, số thuế GTGT chưa được khấu trừ hết của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (100 triệu đồng) thì được xét hoàn thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    b) Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì cơ sở kinh doanh lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư đồng thời phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh.

    Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư.

    Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới chưa được khấu trừ hết nhỏ hơn 300 triệu đồng thì kết chuyển vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ kê khai tiếp theo.

    Trường hợp trong kỳ kê khai, cơ sở kinh doanh có số thuế GTGT đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh chưa được khấu trừ hết và số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 3 Điều này theo quy định.

    Riêng đối với dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư và quy định tiêu chuẩn dự án thì không thực hiện kết chuyển mà thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

    Trường hợp cơ sở kinh doanh có quyết định thành lập các Ban Quản lý dự án hoặc chi nhánh đóng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính để thay mặt người nộp thuế trực tiếp quản lý một hoặc nhiều dự án đầu tư tại nhiều địa phương; Ban Quản lý dự án, chi nhánh có con dấu theo quy định của pháp luật, lưu giữ sổ sách chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, có tài khoản gửi tại ngân hàng, đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế thì Ban Quản lý dự án, chi nhánh phải lập hồ sơ khai thuế, hoàn thuế riêng với cơ quan thuế địa phương nơi đăng ký thuế. Khi dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp đã hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế giá trị gia tăng phát sinh, số thuế giá trị gia tăng đã hoàn, số thuế giá trị gia tăng chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành lập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

    Dự án đầu tư được hoàn thuế GTGT theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này là dự án đầu tư được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trường hợp dự án đầu tư không thuộc đối tượng được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư thì phải có phương án đầu tư được người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư phê duyệt.

    Ví dụ 78: Công ty A có trụ sở chính tại Hà Nội, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư mới tại Hưng Yên, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, Công ty A thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này tại Hà Nội trên Tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầu tư. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 900 triệu đồng. Công ty A phải bù trừ 500 triệu đồng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (900 triệu đồng), vậy Công ty A c̣n phải nộp trong kỳ tính thuế tháng 4/2014 là 400 triệu đồng.

    Ví dụ 79: Công ty B có trụ sở chính tại Hải Phòng, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư mới tại Thái Bình, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, Công ty B thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này tại Hải Phòng trên Tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầu tư. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 200 triệu đồng. Công ty B phải bù trừ 200 triệu đồng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (200 triệu đồng). Vậy, kỳ tính thuế tháng 4/2014 Công ty B có số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới chưa được khấu trừ hết là 300 triệu đồng. Công ty B được xét hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư.

    Ví dụ 80: Công ty C có trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư mới tại Đồng Nai, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, Công ty C thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này tại TP. Hồ Chí Minh trên Tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầu tư. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 300 triệu đồng. Công ty C phải bù trừ 300 triệu đồng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (300 triệu đồng). Vậy, kỳ tính thuế tháng 4/2014 Công ty C có số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới chưa được khấu trừ hết là 200 triệu đồng. Công ty C không thuộc trường hợp được xét hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư, Công ty C thực hiện kết chuyển 200 triệu đồng vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ kê khai tháng 5/2014.

    Ví dụ 81: Công ty D có trụ sở chính tại thành phố Đà Nẵng, tháng 3/2014, Công ty có dự án đầu tư mới tại Quảng Nam, dự án đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, Công ty D thực hiện kê khai riêng thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư này tại thành phố Đà Nẵng trên Tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầu tư. Tháng 4/2014 số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là 500 triệu đồng; số thuế GTGT chưa được khấu trừ hết của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Công ty đang thực hiện là 100 triệu đồng. Vậy, tại kỳ tính thuế tháng 4/2014, số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư (500 triệu đồng) thuộc trường hợp được xét hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư, số thuế GTGT chưa được khấu trừ hết của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện (100 triệu đồng) thì được xét hoàn thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều này.”

    b) Sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 18 như sau:

    “4. Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo.

    Cơ sở kinh doanh trong tháng/quý vừa có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ bán trong nước thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế GTGT cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên.

    Số thuế GTGT đầu vào được hoàn cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu được xác định như sau:

    Số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng /quý

    =

    Thuế GTGT đầu ra của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước

    _

    Tổng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ trong tháng/quý (bao gồm: thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động xuất khẩu, phục vụ hoạt động kinh doanh trong nước chịu thuế trong tháng/quý và thuế GTGT chưa khấu trừ hết từ tháng/quý trước chuyển sang)

     

     

    Số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

    =

    Số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng/quý

    x

    Tổng doanh thu xuất khẩu trong tháng/quý
    __________________

    Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ trong kỳ bán ra chịu thuế, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế (bao gồm cả doanh thu xuất khẩu) trong tháng/quý

    x100%

    Nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đã tính phân bổ như trên chưa được khấu trừ nhỏ hơn 300 triệu đồng thì cơ sở kinh doanh không được xét hoàn thuế theo tháng/quý mà kết chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo; nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế GTGT theo tháng/quý.

    Ví dụ 82:

    Tháng 3/2014 Tờ khai thuế GTGT của doanh nghiệp X có số liệu:

    - Thuế GTGT kỳ trước chuyển sang: 0,15 tỷ đồng.

    - Thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động xuất khẩu, phục vụ hoạt động kinh doanh trong nước chịu thuế phát sinh trong tháng: 4,8 tỷ đồng.

    - Tổng doanh thu (TDT) là 21,6 tỷ, trong đó: doanh thu xuất khẩu (DTXK) là 13,2 tỷ đồng, doanh thu bán trong nước chịu thuế GTGT là 8,4 tỷ đồng.

    Tỷ lệ % DTXK/TDT = 13,2/21,6 x 100% = 61%.

    - Thuế GTGT đầu ra của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước là 0,84 tỷ đồng.

    Số thuế GTGT được hoàn theo tháng của hàng xuất khẩu được xác định như sau:

    Số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng

    =

    0,84 tỷ đồng - (0,15 + 4,8 ) tỷ đồng

     

    =

    - 4,11 tỷ đồng.

     

     

    Như vậy số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của tháng là 4,11 tỷ đồng.

    - Xác định số thuế GTGT đầu vào của hàng xuất khẩu

    Số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu

    =

    4,11 tỷ đồng x 61%

     

    =

    2,507 tỷ đồng

     

     

    Số thuế GTGT đầu vào của hàng xuất khẩu (sau khi bù trừ và sau khi phân bổ) chưa khấu trừ hết là 2,507 tỷ đồng lớn hơn (>) 300 triệu đồng, theo đó doanh nghiệp được hoàn 2,507 tỷ đồng tiền thuế GTGT theo tháng/quý. Số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước không được hoàn theo tháng là 1,603 tỷ đồng (1,603 tỷ = 4,11 tỷ - 2,507 tỷ) được chuyển kỳ sau khấu trừ tiếp.

    Đối tượng được hoàn thuế trong một số trường hợp xuất khẩu như sau: Đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu, là cơ sở có hàng hóa ủy thác xuất khẩu; đối với gia công chuyển tiếp, là cơ sở ký hợp đồng gia công xuất khẩu với phía nước ngoài; đối với hàng hóa xuất khẩu để thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài, là doanh nghiệp có hàng hóa, vật tư xuất khẩu thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài; đối với hàng hóa xuất khẩu tại chỗ là cơ sở kinh doanh có hàng hóa xuất khẩu tại chỗ.”

    c) Sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 18 như sau:

    “5. Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết.

    Cơ sở kinh doanh trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động chưa phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu ra của hoạt động kinh doanh chính theo dự án đầu tư thì chưa phải điều chỉnh lại số thuế giá trị gia tăng đã kê khai, khấu trừ hoặc đã được hoàn. Cơ sở kinh doanh phải thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định.

    Trường hợp cơ sở kinh doanh sau khi làm đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản thì đối với số thuế GTGT đã được hoàn thực hiện theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản và quản lý thuế; đối với số thuế GTGT chưa được hoàn thì không được giải quyết hoàn thuế.

    Trường hợp cơ sở kinh doanh chấm dứt hoạt động và không phát sinh thuế GTGT đầu ra của hoạt động kinh doanh chính thì phải nộp lại số thuế đã được hoàn vào ngân sách nhà nước. Trường hợp có phát sinh bán tài sản chịu thuế GTGT thì không phải điều chỉnh lại số thuế GTGT đầu vào tương ứng của tài sản bán ra.

    Ví dụ 83: Năm 2015, doanh nghiệp A trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp A có phát sinh số thuế GTGT đầu vào của giai đoạn đầu tư đã được cơ quan thuế hoàn trong tháng 8/2015 là 700 triệu đồng. Do khó khăn, tháng 2/2016 doanh nghiệp A quyết định giải thể và có văn bản gửi cơ quan thuế về việc sẽ giải thể thì trong giai đoạn doanh nghiệp A chưa hoàn thành thủ tục pháp lý để giải thể, cơ quan thuế chưa thu hồi lại thuế GTGT đã hoàn. Hai mươi ngày trước khi doanh nghiệp A có đủ thủ tục pháp lý để giải thể chính thức vào tháng 10/2016, doanh nghiệp thực hiện bán một (01) tài sản đã đầu tư thì doanh nghiệp A không phải điều chỉnh lại số thuế GTGT đầu vào tương ứng của tài sản bán ra (số thuế đã được cơ quan thuế hoàn). Đối với những tài sản không bán ra, doanh nghiệp A phải kê khai điều chỉnh để nộp lại số thuế GTGT đã được hoàn.”

    Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014) như sau:

    1. Sửa đổi, bổ sung Điều 11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính) như sau:

    a) Sửa đổi điểm đ Khoản 1 Điều 11 như sau:

    “đ) Trường hợp người nộp thuế có hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh mà giá trị công trình xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh bao gồm cả thuế GTGT từ 1 tỷ đồng trở lên, và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, mà không thành lập đơn vị trực thuộc tại địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính (sau đây gọi là kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh) thì người nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quản lý tại địa phương có hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh.

    Căn cứ tình hình thực tế trên địa bàn quản lý, giao Cục trưởng Cục Thuế địa phương quyết định về nơi kê khai thuế đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh.

    Ví dụ 16: Công ty A trụ sở tại Hải Phòng ký hợp đồng cung cấp xi măng cho Công ty B có trụ sở tại Hà Nội. Theo hợp đồng, hàng hóa sẽ được Công ty A giao tại công trình mà công ty B đang xây dựng tại Hà Nội. Hoạt động bán hàng này không được gọi là bán hàng vãng lai ngoại tỉnh. Công ty A thực hiện kê khai thuế GTGT tại Hải Phòng, không phải thực hiện kê khai thuế GTGT tại Hà Nội đối với doanh thu từ hợp đồng bán hàng cho Công ty B.

    Ví dụ 17: Công ty B có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh có các kho hàng tại Hải Phòng, Nghệ An không có chức năng kinh doanh. Khi Công ty B xuất bán hàng hóa tại kho ở Hải Phòng cho Công ty C tại Hưng Yên thì Công ty B không phải kê khai thuế GTGT tại địa phương nơi có các kho hàng (Hải Phòng, Nghệ An).

    Ví dụ 18:

    - Công ty A có trụ sở tại Hà Nội ký hợp đồng với Công ty B chỉ để thực hiện tư vấn, khảo sát, thiết kế công trình được xây dựng tại Sơn La mà Công ty B là chủ đầu tư thì hoạt động này không phải hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh. Công ty A thực hiện khai thuế GTGT đối với hợp đồng này tại trụ sở chính tại Hà Nội, không phải thực hiện kê khai thuế GTGT tại Sơn La.

    - Công ty A có trụ sở tại Hà Nội ký hợp đồng với Công ty C để thực hiện công trình được xây dựng (trong đó có bao gồm cả hoạt động khảo sát, thiết kế) tại Sơn La mà Công ty C là chủ đầu tư, giá trị công trình bao gồm cả thuế GTGT trên 1 tỷ đồng thì Công ty A thực hiện khai thuế GTGT xây dựng ngoại tỉnh đối với hợp đồng này tại Sơn La.

    - Công ty A có trụ sở tại Hà Nội ký hợp đồng với Công ty Y để thực hiện công trình được xây dựng (trong đó có bao gồm cả hoạt động khảo sát, thiết kế) tại Yên Bái mà Công ty C là chủ đầu tư, giá trị công trình bao gồm cả thuế GTGT là 770 triệu đồng thì Công ty A không phải thực hiện khai thuế GTGT xây dựng ngoại tỉnh đối với hợp đồng này tại Sơn La

    Ví dụ 19: Công ty B trụ sở tại Hà Nội bán máy điều hoà cho khách tại Hòa Bình (bao gồm cả lắp đặt) thì Công ty B không phải kê khai thuế GTGT tại Hoà Bình.

    Ví dụ 20: Công ty A có trụ sở tại Hà Nội mua 10 căn nhà thuộc 1 dự án của Công ty B tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó Công ty A bán lại các căn nhà này và thực hiện xuất hóa đơn cho khách hàng C thì Công ty A phải thực hiện kê khai, nộp thuế đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh theo tỷ lệ % doanh thu với cơ quan thuế tại thành phố Hồ Chí Minh.”

    b) Sửa đổi điểm e khoản 1 như sau:

    “Trường hợp người nộp thuế có công trình xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh liên quan tới nhiều địa phương như: xây dựng đường giao thông, đường dây tải điện, đường ống dẫn nước, dẫn dầu, dẫn khí,..., không xác định được doanh thu của công trình ở từng địa phương cấp tỉnh thì người nộp thuế khai thuế giá trị gia tăng của doanh thu xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh chung với hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tại trụ sở chính và nộp thuế GTGT cho các tỉnh nơi có công trình đi qua. Số thuế GTGT phải nộp cho các tỉnh được tính theo tỷ lệ (%) giá trị đầu tư của công trình tại từng tỉnh do người nộp thuế tự xác định nhân (x) với 2% doanh thu chưa có thuế GTGT của hoạt động xây dựng công trình.

    Số thuế GTGT đã nộp (theo chứng từ nộp thuế) của hoạt động xây dựng công trình liên tỉnh được trừ (-) vào số thuế phải nộp trên Tờ khai thuế GTGT (mẫu số 01/GTGT) của người nộp thuế tại trụ sở chính.

    Người nộp thuế lập Bảng phân bổ số thuế GTGT phải nộp cho các địa phương nơi có công trình xây dựng, lắp đặt liên tỉnh (mẫu số 01-7/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này) và sao gửi kèm theo Tờ khai thuế GTGT cho Cục Thuế nơi được hưởng nguồn thu thuế GTGT.”

    c) Sửa đổi điểm b Khoản 3 Điều 11 như sau:

    “b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý áp dụng phương pháp khấu trừ thuế:

    - Tờ khai thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này (thay thế cho mẫu Tờ khai thuế giá trị tăng theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính).

    Trường hợp người nộp thuế có hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh hoặc có cơ sở sản xuất trực thuộc tại địa phương khác nơi đóng trụ sở chính thì người nộp thuế nộp cùng Tờ khai thuế GTGT tài liệu sau:

    - Bảng tổng hợp số thuế giá trị gia tăng đã nộp của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh (nếu có) theo mẫu số 01-5/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

    - Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán (nếu có) theo mẫu số 01-6/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

    - Bảng phân bổ số thuế GTGT phải nộp cho các địa phương nơi có công trình xây dựng, lắp đặt liên tỉnh (nếu có) theo mẫu số 01-7/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.”

    d) Sửa đổi điểm b khoản 5 Điều 11 như sau:

     “b) Hồ sơ khai thuế GTGT tháng/quý tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu là Tờ khai thuế giá trị gia tăng mẫu số 04/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.”

    e) Sửa đổi Khoản 6 Điều 11 như sau:

    “6. Khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh không thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều này.

    a) Người nộp thuế kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh thì khai thuế giá trị gia tăng tạm tính theo tỷ lệ 2% đối với hàng hoá chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% hoặc theo tỷ lệ 1% đối với hàng hoá chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% trên doanh thu hàng hoá chưa có thuế giá trị gia tăng với cơ quan Thuế quản lý địa phương nơi có hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh.

    b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh là Tờ khai thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

    c) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh được nộp theo từng lần phát sinh doanh thu. Trường hợp phát sinh nhiều lần nộp hồ sơ khai thuế trong một tháng thì người nộp thuế có thể đăng ký với Cơ quan thuế nơi nộp hồ sơ khai thuế để nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng theo tháng.

    d) Khi khai thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp, người nộp thuế phải tổng hợp doanh thu phát sinh và số thuế giá trị gia tăng đã nộp của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh trong hồ sơ khai thuế tại trụ sở chính. Số thuế đã nộp (theo chứng từ nộp tiền thuế) của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh được trừ vào số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo tờ khai thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế tại trụ sở chính.”

    2. Sửa đổi Khoản 3 Điều 13 như sau:

    “3. Hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt

    - Tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt theo mẫu số 01/TTĐB ban hành kèm theo Thông tư số156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.”

    3. Sửa đổi Điều 20 như sau:

    a) Sửa đổi điểm d Khoản 3 Điều 20 như sau:

    “d) Khai thuế đối với hãng vận tải nước ngoài

    Tổ chức làm đại lý tàu biển hoặc đại lý giao nhận vận chuyển hàng hóa cho các hãng vận tải nước ngoài (sau đây gọi chung là đại lý của hãng vận tải) có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay cho các hãng vận tải nước ngoài.

    Hồ sơ khai thuế đối với hãng vận tải nước ngoài được nộp cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp bên đại lý của hãng vận tải.

    Khai thuế đối với hãng vận tải nước ngoài là tạm nộp theo quý và quyết toán theo năm.”

    b) Sửa đổi điểm d2 khoản 3 Điều 20 như sau:

    “d.2) Hồ sơ Thông báo miễn, giảm thuế theo Hiệp định:

    Trường hợp hãng vận tải nước ngoài thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế do áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nước, vùng lãnh thổ khác thì thực hiện thêm các thủ tục sau:

    Tại Tờ khai thuế đối với hãng vận tải nước ngoài, hãng vận tải nước ngoài hoặc đại lý của hãng vận tải nước ngoài phải gửi cho cơ quan thuế hồ sơ thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định. Hồ sơ gồm:

    - Thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định theo mẫu số 01/HTQT ban hành kèm theo Thông tư này;

    - Bản gốc (hoặc bản chụp đã được chứng thực) Giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế của nước, vùng lãnh thổ nơi hãng tàu nước ngoài cư trú cấp cho năm tính thuế ngay trước năm thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định đã được hợp pháp hóa lãnh sự.

    Đại lý của hãng vận tải nước ngoài tại Việt Nam hoặc Văn phòng Đại diện của hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm lưu trữ các hồ sơ, tài liệu, chứng từ theo quy định của Luật kế toán, Nghị định hướng dẫn Luật kế toán và Bộ Luật Hàng hải và xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu.

    Trường hợp hãng vận tải nước ngoài hoặc đại lý của hãng vận tải nước ngoài ủy quyền cho đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục áp dụng Hiệp định phải nộp thêm bản gốc giấy ủy quyền.

    Kết thúc năm, hãng vận tải nước ngoài hoặc đại lý của hãng vận tải nước ngoài gửi cơ quan thuế Giấy chứng nhận cư trú đã được hợp pháp hóa lãnh sự của hãng tàu cho năm đó.

    Trường hợp năm trước đó đã thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định, thì các năm tiếp theo hãng vận tải nước ngoài hoặc đại lý của hãng vận tải nước ngoài chỉ cần thông báo bất kỳ sự thay đổi nào về các thông tin đã thông báo tại mẫu số 01/HTQT của năm trước đó và cung cấp các tài liệu tương ứng với việc thay đổi.

    Trường hợp các hãng vận tải nước ngoài có các đại lý tại nhiều địa phương ở Việt Nam hoặc các đại lý của hãng vận tải nước ngoài có các chi nhánh hoặc văn phòng đại diện (sau đây gọi chung là chi nhánh) tại nhiều địa phương ở Việt Nam thì các hãng vận tải nước ngoài hoặc đại lý của hãng vận tải nước ngoài nộp bản gốc (hoặc bản chụp đã được chứng thực) Giấy chứng nhận cư trú đã hợp pháp hóa lãnh sự cho Cục Thuế địa phương nơi đại lý của hãng vận tải nước ngoài có trụ sở chính; gửi bản chụp Giấy chứng nhận cư trú đã hợp pháp hóa lãnh sự tại các Cục Thuế địa phương nơi hãng vận tải nước ngoài có chi nhánh và ghi rõ nơi đã nộp bản gốc (hoặc bản chụp đã được chứng thực) trong Thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định”.

    4. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:

    “Điều 27. Đồng tiền nộp thuế và xác định doanh thu, chi phí, giá tính thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước.

    1. Người nộp thuế thực hiện nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam, trừ trường hợp được nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật.

    2. Trường hợp người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp bằng ngoại tệ nhưng được cơ quan có thẩm quyền cho phép nộp thuế bằng đồng Việt Nam thì người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế căn cứ số tiền Việt Nam Đồng trên chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước và tỷ giá quy định tại Khoản này để quy đổi thành số tiền bằng ngoại tệ để thanh toán cho khoản nghĩa vụ phải nộp bằng ngoại tệ, cụ thể như sau:

    Trường hợp nộp tiền tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước thì áp dụng tỷ giá mua vào của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng nơi người nộp thuế mở tài khoản tại thời điểm người nộp thuế nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

    Ví dụ: Công ty X là người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp bằng ngoại tệ nhưng được cơ quan có thẩm quyền cho phép nộp thuế bằng đồng Việt Nam. Công ty X mở tài khoản tại 3 ngân hàng là Ngân hàng A, Ngân hàng B và Ngân hàng C. Ngày 21/3/2015, tỷ giá mua vào đồng đô la Mỹ tại Ngân hàng A là 21.300 VND/USD, tại Ngân hàng B là 21.310 VND/USD, tại Ngân hàng C là 21.305 VND/USD. Ngày 21/3/2015, Công ty X nộp thuế bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng D hoặc Kho bạc Nhà nước quận E thì Công ty X được áp dụng tỷ giá mua vào của một trong ba ngân hàng A, B, C. Nếu Công ty X nộp thuế bằng đồng Việt Nam tại Ngân hàng A thì áp dụng tỉ giá là 21.300 VND/USD.

    3. Trường hợp phát sinh doanh thu, chi phí, giá tính thuế bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 hướng dẫn về chế độ kế toán doanh nghiệp như sau:

    - Tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán doanh thu là tỷ giá mua vào của Ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản.

    - Tỷ giá giao dịch thực tế để hạch toán chi phí là tỷ giá bán ra của Ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản tại thời điểm phát sinh giao dịch thanh toán ngoại tệ.

    - Các trường hợp cụ thể khác thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014.”

    5. Sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm d Khoản 1 Điều 31 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 21 Thông tư 151/2014/TT-BTC) như sau:

    “1. Sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm d Khoản 1 Điều 31 như sau:

    “a) Bị thiệt hại vật chất gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh do gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ.

    Thiệt hại vật chất là những tổn thất về tài sản của người nộp thuế, tính được bằng tiền như: máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hoá, nhà xưởng, trụ sở làm việc, tiền, các giấy tờ có giá trị như tiền.

    Tai nạn bất ngờ là việc không may xảy ra đột ngột ngoài ý muốn của người nộp thuế, do tác nhân bên ngoài gây ra làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, không phải do nguyên nhân từ hành vi vi phạm pháp luật. Những trường hợp được coi là tai nạn bất ngờ bao gồm: tai nạn giao thông; tai nạn lao động; mắc bệnh hiểm nghèo; bị dịch bệnh truyền nhiễm vào thời gian và tại những vùng mà cơ quan có thẩm quyền đã công bố có dịch bệnh truyền nhiễm; các trường hợp bất khả kháng khác.

    Danh mục về bệnh hiểm nghèo thực hiện theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật”.

    “d) Không có khả năng nộp thuế đúng hạn do gặp khó khăn đặc biệt khác.”

    6. Bãi bỏ điểm c khoản 1, điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 31 Thông tư156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính và khoản 2 Điều 21 Thông tư151/2014/TT-BTC 10/10/2014 của Bộ Tài chính

    Đối với các trường hợp gia hạn nộp thuế theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính, cơ quan thuế đã ban hành quyết định gia hạn nộp thuế trước ngày 01/01/2015 thì được tiếp tục thực hiện đến khi hết hiệu lực của quyết định.

    7. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 3 Điều 31 như sau:

    “d) Đối với trường hợp nêu tại điểm d khoản 1 Điều 31 Thông tư 156/2013/TT-BTC:

    - Văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế của người nộp thuế theo mẫu số 01/GHAN ban hành kèm theo Thông tư 156/2013/TT-BTC;

    - Văn bản của cơ quan thuế quản lý trực tiếp gửi cơ quan thuế cấp trên, trong đó: xác nhận khó khăn đặc biệt và những nguyên nhân gây ra khó khăn đó mà người nộp thuế không có khả năng nộp đúng hạn số tiền thuế nợ theo đề nghị, giải trình của người nộp thuế tại văn bản đề nghị gia hạn;

    - Bản sao các văn bản về gia hạn, xoá nợ, miễn thuế, giảm thuế đối với người nộp thuế của cơ quan thuế ban hành trong thời gian 02 (hai) năm trước đó (nếu có);

    - Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của người nộp thuế khi thực hiện quyết định (nếu có).”

    8. Sửa đổi điểm b.2 khoản 2 Điều 32 như sau:

    "b.2) Nộp thay cho người nộp thuế trong trường hợp quá thời hạn nộp dần tiền thuế từng tháng mà người nộp thuế chưa nộp, bao gồm: số tiền thuế được nộp dần và số tiền chậm nộp tính theo mức 0,05% mỗi ngày.”

    9. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 34 như sau:

    “2. Xác định tiền chậm nộp tiền thuế

    a) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/01/2015 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,05% số tiền thuế chậm nộp tính trên mỗi ngày chậm nộp.

    b) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/01/2015 nhưng sau ngày 01/01/2015 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13.

    Ví dụ 44: Người nộp thuế B nợ 100 triệu đồng tiền thuế GTGT thuộc tờ khai thuế GTGT tháng 8/2014, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 22/9/2014 (do ngày 20/9/2014 và ngày 21/9/2014 là ngày nghỉ). Ngày 20/01/2015 người nộp thuế nộp số tiền thuế này vào ngân sách nhà nước, số ngày chậm nộp được tính từ ngày 23/9/2014 đến ngày 20/01/2015, số tiền chậm nộp phải nộp là 6,2 triệu đồng. Cụ thể như sau:

    - Trước ngày 01/01/2015 tiền chậm nộp được tính như sau:

    + Từ ngày 23/9/2014 đến ngày 21/12/2014, số ngày chậm nộp là 90 ngày: 100 triệu x 0,05% x 90 ngày = 4,5 triệu đồng.

    + Từ ngày 22/12/2014 đến ngày 31/12/2014, số ngày chậm nộp là 10 ngày: 100 triệu x 0,07% x 10 ngày = 0,7 triệu đồng.

    - Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 20/01/2015, số ngày chậm nộp là 20 ngày: 100 triệu x 0,05% x 20 ngày = 1 triệu đồng.”

    “e) Trường hợp người nộp thuế khai thiếu tiền thuế của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/01/2015 nhưng sau ngày 01/01/2015, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc người nộp thuế tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu từ ngày phải nộp theo quy định của pháp luật đến ngày người nộp thuế nộp tiền thuế khai thiếu vào ngân sách nhà nước.”

    10. Bổ sung Điều 34a như sau:

    “Điều 34a. Không tính tiền chậm nộp

    1. Người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán (sau đây gọi chung là người nộp thuế) nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế.

    Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán một phần từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, phần còn lại từ nguồn ngoài ngân sách, nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì người nộp thuế không phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế tương ứng với phần được thanh toán từ ngân sách nhà nước.

    Đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước là đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước được giao dự toán chi ngân sách nhà nước theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

    Ví dụ: Người nộp thuế A cung cấp hàng hóa X cho đơn vị B (đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước) giá trị hàng hóa X là 100 triệu đồng, trong đó 40 triệu được thanh toán từ NSNN, 60 triệu được thanh toán từ nguồn ngoài ngân sách nhà nước. Người nộp thuế A chưa được đơn vị B thanh toán 100 triệu đồng.

    Người nộp thuế A nợ thuế là 70 triệu đồng, người nộp thuế A thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp đối với số thuế là 40 triệu đồng.

    2. Phạm vi số tiền thuế và thời gian không tính tiền chậm nộp tiền thuế đối với trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán

    a) Không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế còn nợ, số tiền thuế nợ này không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa thanh toán cho người nộp thuế.

    Trường hợp người nộp thuế nợ thuế của nhiều kỳ kê khai thuế thì tổng số thuế nợ của các kỳ kê khai không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa thanh toán.

    b) Thời gian không tính chậm nộp tiền thuế được tính từ ngày người nộp thuế phải nộp thuế đến ngày đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán cho người nộp thuế và không vượt quá thời gian ngân sách nhà nước chưa thanh toán cho người nộp thuế.

    3. Trình tự, thủ tục không tính tiền chậm nộp

    a) Người nộp thuế thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 1 Điều này cung cấp cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp văn bản xác nhận của đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước về việc người nộp thuế chưa được thanh toán theo mẫu số 01/TCN ban hành kèm theo Thông tư này.

    b) Cơ quan thuế ban hành quyết định về việc kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế, thời gian kiểm tra tối đa là 03 ngày làm việc. Sau khi kiểm tra, cơ quan thuế xác định:

    - Nếu người nộp thuế thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp thì cơ quan thuế ban hành thông báo về việc người nộp thuế không phải nộp tiền chậm nộp thuế.

    - Nếu người nộp thuế thuộc trường hợp phải nộp tiền chậm nộp thì cơ quan thuế ban hành thông báo về việc người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp thuế (thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp) và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật.

    Ví dụ:

    Ngày 20/02/2015, người nộp thuế A nộp tờ khai thuế GTGT, số thuế phải nộp là 30 triệu đồng. Tại thời điểm này, ngân sách nhà nước chưa thanh toán cho người nộp thuế A số tiền là 100 triệu đồng. Sau khi kiểm tra, cơ quan thuế xác định người nộp thuế A thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp đối với số thuế GTGT 30 triệu đồng đến khi được ngân sách nhà nước thanh toán.

    Đến ngày 31/3/2015, người nộp thuế A nộp quyết toán thuế TNDN, số tiền thuế TNDN phải nộp là 80 triệu đồng. Tại thời điểm này, ngân sách nhà nước vẫn chưa thanh toán cho người nộp thuế A số tiền 100 triệu đồng. Người nộp thuế A tiếp tục thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp đối với số thuế TNDN 70 triệu đồng đến khi được ngân sách nhà nước thanh toán. Số tiền thuế còn lại là 10 triệu đồng, nếu người nộp thuế A chưa nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định thì phải tính tiền chậm nộp.

    c) Sau khi được ngân sách nhà nước thanh toán, người nộp thuế thực hiện nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước và thông báo cho cơ quan thuế theo mẫu số 02/TCN ban hành kèm theo Thông tư này để cơ quan thuế có cơ sở tính lại các khoản tiền thuế nợ, tiền chậm nộp và xác định chính xác số ngày không phải nộp tiền chậm nộp của người nộp thuế.

    4. Trách nhiệm của người nộp thuế

    Người nộp thuế có trách nhiệm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước ngay sau khi được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán cho người nộp thuế.

    5. Trách nhiệm của đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước

    Đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước có trách nhiệm xác nhận tình trạng thanh toán cho người nộp thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác nhận này.

    6. Trách nhiệm của cơ quan thuế

    a) Cơ quan thuế thực hiện giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, nếu phát hiện người nộp thuế được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán nhưng không nộp kịp thời tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước thì cơ quan thuế ban hành thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp, theo đó tính tiền chậm nộp kể từ ngày kế tiếp ngày người nộp thuế được thanh toán và thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật.

    b) Cơ quan thuế chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đối với trường hợp không tính tiền chậm nộp theo quy định tại Điều này.

    7. Trách nhiệm của cơ quan Kho bạc nhà nước

    Cơ quan Kho bạc nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế trong việc cung cấp thông tin về tình hình thanh toán nguồn vốn ngân sách nhà nước.”

    11. Sửa đổi, bổ sung Điều 35 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 như sau:

    “2. Xác định số tiền chậm nộp được miễn

    a) Trường hợp người nộp thuế gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh: số tiền chậm nộp được miễn tính trên số tiền thuế còn nợ tại thời điểm xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh và số tiền chậm nộp được miễn này không vượt quá giá trị tài sản, hàng hoá bị thiệt hại.

    b) Trường hợp người nộp thuế bị bệnh hiểm nghèo: số tiền chậm nộp được miễn tính trên số tiền thuế còn nợ tại thời điểm mắc bệnh hiểm nghèo và số tiền chậm nộp được miễn này không vượt quá chi phí khám, chữa bệnh.”

    c) Trường hợp NNT gặp bất khả kháng khác: số tiền chậm nộp được miễn tính trên số tiền thuế còn nợ tại thời điểm gây nên tình trạng bất khả kháng khác và số tiền chậm nộp được miễn này không vượt quá giá trị tài sản, hàng hoá bị thiệt hại.”

    b) Sửa đổi, bổ sung điểm b.1, b.2 khoản 3 như sau:

    “b.1) Trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, phải có:

    - Biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại về tài sản của cơ quan có thẩm quyền như Hội đồng định giá do Sở Tài chính thành lập, hoặc các công ty định giá chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ định giá theo hợp đồng, hoặc Trung tâm định giá của Sở Tài chính;

    - Văn bản xác nhận về việc người nộp thuế có thiệt hại tại nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ và thời điểm xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh của một trong các cơ quan, tổ chức sau: công an cấp xã, phường hoặc UBND cấp xã, phường, Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế nơi xảy ra thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc tổ chức cứu hộ, cứu nạn;

    - Hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận bồi thường (nếu có);

    - Hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (nếu có).

    b.2) Trường hợp cá nhân bị bệnh hiểm nghèo thì phải có xác nhận đã khám chữa bệnh trên sổ y bạ, thời điểm xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh được thành lập theo quy định của pháp luật; chi phí khám, chữa bệnh có đầy đủ chứng từ theo quy định; hồ sơ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của cơ quan bảo hiểm (nếu có).”

    c) Bổ sung Khoản 5 vào Điều 35 như sau:

    “5. Trình tự giải quyết hồ sơ miễn tiền chậm nộp

    a) Trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày xảy ra gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo hoặc trường hợp bất khả kháng khác người nộp thuế phải lập hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

    b) Trường hợp hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp chưa đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan thuế phải thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế đề nghị giải trình hoặc bổ sung hồ sơ. Người nộp thuế phải giải trình hoặc bổ sung hồ sơ trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày cơ quan thuế ban hành văn bản giải trình hoặc bổ sung hồ sơ.

    Nếu người nộp thuế không hoàn chỉnh hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan thuế thì người nộp thuế không thuộc trường hợp được miễn tiền chậm nộp.

    c) Trường hợp hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp đầy đủ, trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan thuế quản lý trực tiếp ban hành văn bản gửi người nộp thuế:

    c.1) Văn bản không chấp thuận đề nghị của người nộp thuế nếu người nộp thuế không đủ điều kiện được miễn tiền chậm nộp.

    c.2) Quyết định về việc miễn tiền chậm nộp nếu người nộp thuế thuộc trường hợp được miễn tiền chậm nộp.”

    12. Sửa đổi Điều 40 như sau:

    “Điều 40. Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh

    1. Người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

    2. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm dừng việc xuất cảnh của cá nhân khi có thông báo bằng văn bản hoặc thông tin điện tử từ cơ quan quản lý thuế về việc người dự kiến xuất cảnh chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trước khi xuất cảnh.”

    13. Sửa đổi khoản 2 Điều 54 như sau:

    “2. Hồ sơ hoàn thuế

    - Giấy đề nghị hoàn thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo mẫu số 02/ĐNHT ban hành kèm theo Thông tư này.

    - Bản gốc (hoặc bản chụp đã được chứng thực) Giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế của nước cư trú cấp đã được hợp pháp hóa lãnh sự (ghi rõ là đối tượng cư trú trong năm tính thuế nào).

    - Bản chụp hợp đồng kinh tế, hợp đồng cung cấp dịch vụ, hợp đồng đại lý, hợp đồng uỷ thác, hợp đồng chuyển giao công nghệ hay hợp đồng lao động ký với tổ chức, cá nhân Việt Nam, giấy chứng nhận tiền gửi tại Việt Nam, giấy chứng nhận góp vốn vào Công ty tại Việt Nam (tuỳ theo loại thu nhập trong từng trường hợp cụ thể) có xác nhận của người nộp thuế.

    - Xác nhận của tổ chức, cá nhân Việt Nam ký kết hợp đồng về thời gian và tình hình hoạt động thực tế theo hợp đồng (trừ trường hợp hoàn thuế đối với hãng vận tải nước ngoài).

    - Giấy ủy quyền trong trường hợp tổ chức, cá nhân uỷ quyền cho đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục áp dụng Hiệp định. Trường hợp tổ chức, cá nhân lập giấy uỷ quyền để uỷ quyền cho đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục hoàn thuế vào tài khoản của đối tượng khác cần thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự (nếu việc uỷ quyền được thực hiện ở nước ngoài) hoặc công chứng (nếu việc uỷ quyền được thực hiện tại Việt Nam) theo quy định.

    Trường hợp tổ chức, cá nhân không thể cung cấp đủ các thông tin hoặc các tài liệu theo yêu cầu của Hồ sơ hoàn thuế theo Hiệp định, đề nghị giải trình cụ thể tại Giấy đề nghị hoàn thuế theo Hiệp định mẫu số 02/ĐNHT nêu trên để cơ quan thuế xem xét, quyết định.”

    14. Sửa đổi, bổ sung Điều 58 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 như sau:

    “2. Các trường hợp thuộc diện kiểm tra trước khi hoàn thuế

    - Hoàn thuế theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Riêng đối với hồ sơ hoàn thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần của các hãng vận tải nước ngoài thì thực hiện theo hướng dẫn tại điểm b Khoản 14 Điều 2 Thông tư này.

    - Người nộp thuế đề nghị hoàn thuế lần đầu, trừ trường hợp đề nghị hoàn thuế thu nhập cá nhân. Người nộp thuế đề nghị hoàn thuế lần đầu thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế là người nộp thuế có hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi đến cơ quan thuế lần đầu và thuộc đối tượng, trường hợp được hoàn thuế. Trường hợp người nộp thuế có hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi đến cơ quan thuế lần đầu nhưng không thuộc diện được hoàn thuế theo quy định thì lần đề nghị hoàn thuế kế tiếp theo vẫn xác định là đề nghị hoàn thuế lần đầu.

    - Người nộp thuế đề nghị hoàn thuế trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ thời điểm bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận về thuế.

    Trường hợp người nộp thuế có nhiều lần đề nghị hoàn thuế trong thời hạn 02 (hai) năm, nếu trong lần đề nghị hoàn thuế đầu tiên tính từ sau thời điểm bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận về thuế, cơ quan thuế kiểm tra hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế không có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn quy định tại khoản 33 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, hoặc hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại Điều 108 Luật Quản lý thuế và khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế thì những lần đề nghị hoàn thuế tiếp theo, hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế không thuộc diện kiểm tra trước khi hoàn thuế. Trường hợp phát hiện những lần đề nghị hoàn thuế tiếp theo, người nộp thuế vẫn có hành vi khai sai đối với hồ sơ hoàn thuế, hành vi trốn thuế, gian lận thuế quy định tại khoản 33 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, Điều 108 Luật Quản lý thuế và khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế thì hồ sơ đề nghị hoàn thuế vẫn thuộc đối tượng kiểm tra trước hoàn theo đúng thời hạn 02 (hai) năm kể từ thời điểm bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận về thuế.

    - Hàng hóa, dịch vụ trong bộ hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế không thực hiện giao dịch thanh toán qua ngân hàng theo quy định, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua bán trong nội địa và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu. Quy định này không áp dụng đối với hồ sơ hoàn thuế GTGT, cụ thể: Trường hợp hàng hóa, dịch vụ trong bộ hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT không thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật thuế GTGT thì cơ quan thuế không phải thực hiện kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế trước khi hoàn thuế và xử lý không hoàn thuế GTGT đối với số thuế GTGT liên quan đến hàng hóa, dịch vụ này.

    - Doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi hình thức sở hữu, chấm dứt hoạt động; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước.

    - Hết thời hạn theo thông báo bằng văn bản của cơ quan thuế nhưng người nộp thuế không giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế; hoặc có giải trình, bổ sung lần hai nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng. Quy định này không áp dụng đối với phần hàng hóa, dịch vụ đủ điều kiện và thủ tục hoàn thuế theo quy định.”

    b) Sửa đổi, bổ sung Khoản 4 như sau:

    “4. Kiểm tra sau hoàn thuế đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau

    a) Việc kiểm tra sau hoàn thuế phải được thực hiện trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế đối với các trường hợp sau:

    - Cơ sở kinh doanh kê khai lỗ 02 (hai) năm liên tục liền kề trước năm có quyết định hoàn thuế hoặc có số lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu tính đến năm liền kề trước năm có quyết định hoàn thuế. Số lỗ được xác định theo hồ sơ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp; trường hợp có biên bản thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thì số lỗ được xác định theo kết luận thanh tra, kiểm tra.

    - Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế từ hoạt động kinh doanh bất động sản, kinh doanh thương mại, dịch vụ. Trường hợp cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề tổng hợp không tách riêng được số thuế được hoàn từ hoạt động kinh doanh bất động sản, thương mại, dịch vụ mà có tỷ lệ doanh thu của hoạt động kinh doanh bất động sản, thương mại, dịch vụ trên tổng doanh thu của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất kinh doanh của kỳ phát sinh số thuế đề nghị hoàn từ trên 50% trở lên thì áp dụng kiểm tra sau hoàn trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế.

    - Cơ sở kinh doanh thay đổi trụ sở từ 02 (hai) lần trở lên trong vòng 12 (mười hai) tháng kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trở về trước;

    - Cơ sở kinh doanh có sự thay đổi bất thường về doanh thu tính thuế và số thuế được hoàn trong giai đoạn 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trở về trước.

    - Các hãng vận tải nước ngoài đề nghị hoàn thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.

    b) Đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này, việc kiểm tra sau hoàn thuế được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro trong thời hạn 10 (mười) năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế.”

    Điều 3. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ như sau:

    1. Sửa đổi điểm k Khoản 1 Điều 4 như sau:

    “k) Hóa đơn được thể hiện bằng tiếng Việt. Trường hợp cần ghi thêm chữ nước ngoài thì chữ nước ngoài được đặt bên phải trong ngoặc đơn ( ) hoặc đặt ngay dưới dòng tiếng Việt và có cỡ nhỏ hơn chữ tiếng Việt.

    Chữ số ghi trên hóa đơn là các chữ số tự nhiên: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9; Người bán được lựa chọn: sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ phải đặt dấu chấm (.), nếu có ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị phải đặt dấu phẩy (,) sau chữ số hàng đơn vị hoặc sử dụng dấu phân cách số tự nhiên là dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ và sử dụng dấu chấm (.) sau chữ số hàng đơn vị trên chứng từ kế toán;

    Dòng tổng tiền thanh toán trên hóa đơn phải được ghi bằng chữ. Trường hợp chữ trên hóa đơn là chữ tiếng Việt không dấu thì các chữ viết không dấu trên hóa đơn phải đảm bảo không dẫn tới cách hiểu sai lệch nội dung của hóa đơn

    Mỗi mẫu hoá đơn sử dụng của một tổ chức, cá nhân phải có cùng kích thước (trừ trường hợp hoá đơn tự in trên máy tính tiền được in từ giấy cuộn không nhất thiết cố định độ dài, độ dài của hoá đơn phụ thuộc vào độ dài của danh mục hàng hoá bán ra).”

    2. Sửa đổi gạch đầu dòng cuối điểm b Khoản 1 Điều 6 như sau:

    “- Có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in (Mẫu số 3.14 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) và được cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác nhận đủ điều kiện. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của doanh nghiệp, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có ý kiến về điều kiện sử dụng hóa đơn tự in của doanh nghiệp (Mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).

    Trường hợp sau 5 ngày làm việc cơ quan quản lý thuế trực tiếp không có ý kiến bằng văn bản thì doanh nghiệp được sử dụng hóa đơn tự in. Thủ trưởng cơ quan thuế phải chịu trách nhiệm về việc không có ý kiến bằng văn bản trả lời doanh nghiệp.”

    3. Bổ sung khoản 4 vào Điều 7 như sau:

    “4. Người nộp thuế (bao gồm cả tổ chức và cá nhân) kinh doanh thuộc trường hợp rủi ro cao về thuế thì lập hóa đơn điện tử và gửi thông tin trên hóa đơn bằng phương thức điện tử cho cơ quan thuế để nhận mã xác thực hóa đơn từ cơ quan thuế. Các trường hợp phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế được thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.”

    4. Sửa đổi khổ cuối điểm b Khoản 1 Điều 8 như sau:

    “Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có Thông báo về việc sử dụng hóa đơn đặt in (Mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).

    Trường hợp sau 5 ngày làm việc cơ quan quản lý thuế trực tiếp không có ý kiến bằng văn bản thì doanh nghiệp được sử dụng hóa đơn đặt in. Thủ trưởng cơ quan thuế phải chịu trách nhiệm về việc không có ý kiến bằng văn bản trả lời doanh nghiệp.”

    5. Sửa đổi Khoản 2 Điều 9 như sau:

    “2. Nội dung Thông báo phát hành hóa đơn gồm: tên đơn vị phát hành hoá đơn, mã số thuế, địa chỉ, điện thoại, các loại hoá đơn phát hành (tên loại hóa đơn, ký hiệu hóa đơn, ký hiệu mẫu số hóa đơn, ngày bắt đầu sử dụng, số lượng hóa đơn thông báo phát hành (từ số... đến số...)), tên và mã số thuế của doanh nghiệp in hoá đơn (đối với hoá đơn đặt in), tên và mã số thuế (nếu có) của tổ chức cung ứng phần mềm tự in hoá đơn (đối với hoá đơn tự in), tên và mã số thuế (nếu có) của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hoá đơn điện tử (đối với hoá đơn điện tử); ngày lập Thông báo phát hành, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật và dấu của đơn vị.

    Trường hợp các ngân hàng, tổ chức tín dụng và các chi nhánh ngân hàng, tổ chức tín dụng sử dụng chứng từ giao dịch kiêm hoá đơn thu phí dịch vụ tự in thì gửi Thông báo phát hành hoá đơn kèm theo hoá đơn mẫu đến cơ quan thuế quản lý, đăng ký cấu trúc tạo số hoá đơn, không phải đăng ký trước số lượng phát hành.

     Đối với các số hoá đơn đã thực hiện thông báo phát hành nhưng chưa sử dụng hết có in sẵn tên, địa chỉ trên tờ hoá đơn, khi có sự thay đổi tên, địa chỉ nhưng không thay đổi mã số thuế và cơ quan thuế quản lý trực tiếp, nếu tổ chức kinh doanh vẫn có nhu cầu sử dụng hoá đơn đã đặt in thì thực hiện đóng dấu tên, địa chỉ mới vào bên cạnh tiêu thức tên, địa chỉ đã in sẵn để tiếp tục sử dụng và gửi thông báo điều chỉnh thông tin tại thông báo phát hành hoá đơn đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp (mẫu số 3.13 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).

    Trường hợp có sự thay đổi địa chỉ kinh doanh dẫn đến thay đổi cơ quan thuế quản lý trực tiếp, nếu tổ chức có nhu cầu tiếp tục sử dụng số hoá đơn đã phát hành chưa sử dụng hết thì phải nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn với cơ quan thuế nơi chuyển đi và đóng dấu địa chỉ mới lên hoá đơn, gửi bảng kê hoá đơn chưa sử dụng (mẫu số 3.10 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) và thông báo điều chỉnh thông tin tại thông báo phát hành hoá đơn đến cơ quan thuế nơi chuyển đến (trong đó nêu rõ số hóa đơn đã phát hành chưa sử dụng, sẽ tiếp tục sử dụng). Nếu tổ chức không có nhu cầu sử dụng số hoá đơn đã phát hành nhưng chưa sử dụng hết thì thực hiện huỷ các số hoá đơn chưa sử dụng và thông báo kết quả huỷ hoá đơn với cơ quan thuế nơi chuyển đi và thực hiện thông báo phát hành hoá đơn mới với cơ quan thuế nơi chuyển đến.

    Trường hợp có sự thay đổi về nội dung đã thông báo phát hành, tổ chức kinh doanh phải thực hiện thông báo phát hành mới theo hướng dẫn tại khoản này.”

    6. Bổ sung khoản 2 vào Điều 14 như sau:

    “2. Người nộp thuế (bao gồm cả tổ chức và cá nhân) kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, siêu thị và một số hàng hóa, dịch vụ khác có sử dụng hệ thống máy tính tiền, hệ thống cài đặt phần mềm bán hàng để thanh toán thì thực hiện kết nối với cơ quan thuế để gửi thông tin cho cơ quan thuế theo lộ trình triển khai của cơ quan thuế.”

    7. Sửa đổi, bổ sung Điều 16 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung điểm b Khoản 1 Điều 16 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 119/2014/TT-BTC) như sau:

    “b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động (trừ hàng hoá luân chuyển nội bộ, tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất).

    Nội dung trên hóa đơn phải đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh; không được tẩy xóa, sửa chữa; phải dùng cùng màu mực, loại mực không phai, không sử dụng mực đỏ; chữ số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, không viết hoặc in đè lên chữ in sẵn và gạch chéo phần còn trống (nếu có). Trường hợp hoá đơn tự in hoặc hoá đơn đặt in được lập bằng máy tính nếu có phần còn trống trên hoá đơn thì không phải gạch chéo.”

    b) Sửa đổi, bổ sung điểm b Khoản 2 Điều 16 như sau:

    “b) Tiêu thức “Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán”, “tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua”

    Người bán phải ghi đúng tiêu thức “mã số thuế” của người mua và người bán.

    Tiêu thức “tên, địa chỉ” của người bán, người mua phải viết đầy đủ, trường hợp viết tắt thì phải đảm bảo xác định đúng người mua, người bán.

    Trường hợp tên, địa chỉ người mua quá dài, trên hóa đơn người bán được viết ngắn gọn một số danh từ thông dụng như: "Phường" thành "P"; "Quận" thành "Q", "Thành phố" thành "TP", "Việt Nam" thành "VN" hoặc "Cổ phần" là "CP", "Trách nhiệm Hữu hạn" thành "TNHH", "khu công nghiệp" thành "KCN", "sản xuất" thành "SX", "Chi nhánh" thành "CN"… nhưng phải đảm bảo đầy đủ số nhà, tên đường phố, phường, xã, quận, huyện, thành phố, xác định được chính xác tên, địa chỉ doanh nghiệp và phù hợp với đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế của doanh nghiệp.

    Trường hợp tổ chức bán hàng có đơn vị trực thuộc có mã số thuế trực tiếp bán hàng thì ghi tên, địa chỉ, mã số thuế của đơn vị trực thuộc. Trường hợp đơn vị trực thuộc không có mã số thuế thì ghi mã số thuế của trụ sở chính.

    Trường hợp khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ 200.000 đồng trở lên mỗi lần, người mua không lấy hóa đơn hoặc không cung cấp tên, địa chỉ, mã số thuế (nếu có) thì vẫn phải lập hóa đơn và ghi rõ “người mua không lấy hoá đơn” hoặc “người mua không cung cấp tên, địa chỉ, mã số thuế.

    Riêng đối với các đơn vị bán lẻ xăng dầu, nếu người mua không yêu cầu lấy hoá đơn, cuối ngày đơn vị phải lập chung một hoá đơn cho tổng doanh thu người mua không lấy hoá đơn phát sinh trong ngày.

    Trường hợp hóa đơn đã lập có sai sót về tên, địa chỉ người mua nhưng ghi đúng mã số thuế người mua thì các bên lập biên bản điều chỉnh và không phải lập hóa đơn điều chỉnh. Các trường hợp hóa đơn đã lập có sai sót khác thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 20 Thông tư số 39/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính.”

    8. Ban hành kèm theo Thông tư này các mẫu sau:

    a) Mẫu Thông báo phát hành hóa đơn (mẫu TB01/AC) loại dành cho tổ chức, doanh nghiệp thay thế cho mẫu Thông báo phát hành hóa đơn (mẫu TB01/AC) ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính.

    b) Mẫu Thông báo phát hành hóa đơn (mẫu TB02/AC) loại dành cho Cục Thuế thay thế cho mẫu Thông báo phát hành hóa đơn (mẫu TB02/AC) ban hành kèm theo Thông tư số39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính.

    c) Mẫu Báo cáo về việc nhận in/cung cấp phần mềm tự in hóa đơn (mẫu số BC01/AC) thay thế cho mẫu Báo cáo về việc nhận in/cung cấp phần mềm tự in hóa đơn (mẫu số BC01/AC) ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính.

    9. Sửa đổi, bổ sung điểm 2.4 Phụ lục 4 như sau:

    “2.4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, cho, biếu, tặng đối với tổ chức kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

    a) Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải lập hoá đơn, trên hoá đơn ghi tên và số lượng hàng hoá, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu và thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về thuế GTGT.

    Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động thì phải lập hoá đơn GTGT (hoặc hoá đơn bán hàng), trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng.”

    Điều 4. Hiệu lực thi hành

    1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật số 71/2014/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế có hiệu lực thi hành.

    2. Đối với hợp đồng mua máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ký trước ngày có hiệu lực áp dụng của Luật số 71/2014/QH13 (các loại máy quy định tại Khoản 11 Điều 10 Thông tư số 219/2013/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư này) nhưng thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sau ngày Luật số 71/2014/QH13 có hiệu lực áp dụng thì các bên thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư này.

    3. Đối với hợp đồng đóng tàu đánh bắt xa bờ được ký trước ngày 01/01/2015 theo giá đã có thuế GTGT nhưng đến thời điểm ngày 31/12/2014 chưa hoàn thành, bàn giao mà thời điểm hoàn thành, bàn giao thực tế sau ngày 01/01/2015 thì toàn bộ giá trị tàu đánh bắt xa bờ thực hiện theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư này.

    4. Bãi bỏ các nội dung liên quan đến Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra và các nội dung quy định về tỷ giá khi xác định doanh thu, giá tính thuế tại:

    - Thông tư số 05/2012/TT-BTC ngày 05/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 và Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 08/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.

    - Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng

    - Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ.

    - Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTCngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011, Thông tư số39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế.

    5. Đối với các hồ sơ Thông báo miễn, giảm thuế theo Hiệp định đã được nộp cho cơ quan thuế trước Thông tư này có hiệu lực thi hành, đại lý của hãng vận tải nước ngoài tại Việt Nam hoặc văn phòng đại diện của hãng vận tải nước ngoài thực hiện lưu trữ các hồ sơ, tài liệu, chứng từ theo quy định tại Thông tư này.

    6. Trong quá trình thực hiện, nếu các văn bản liên quan đề cập tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo văn bản mới được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.

    Điều 5. Trách nhiệm thi hành

    1. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện đúng theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

    2. Cơ quan thuế các cấp có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện theo nội dung Thông tư này.

    3. Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng điều chỉnh của Thông tư này thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư này.

    Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết./.

     

     

    Nơi nhận:
    - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
    - Văn phòng Quốc hội;
    - Văn phòng Chủ tịch nước;
    - Văn phòng Tổng Bí thư;
    - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
    - Văn phòng BCĐ phòng chống tham nhũng Trung ương;
    - Toà án nhân dân tối cao;
    - Kiểm toán nhà nước;
    - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, 
     cơ quan thuộc Chính phủ,
    - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
    - Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, 
     Sở Tài chính, Cục Thuế, Kho bạc nhà nước 
     các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
    - Công báo;
    - Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);
    - Website Chính phủ;
    - Website Bộ Tài chính; Website Tổng cục Thuế;
    - Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;
    - Lưu: VT, TCT (VT, CS).

    KT. BỘ TRƯỞNG
    THỨ TRƯỞNG




    Đỗ Hoàng Anh Tuấn